Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Chiếc lược ngà

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:10' 05-08-2023
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:10' 05-08-2023
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG THCS TẢN LĨNH – BA VÌ
CHỦ ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: “CHIẾC LƯỢC NGÀ”
- NGUYỄN THÀNH LONG
I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tác giả
- Nguyễn Quang Sáng ( 1932 – 2014).
- Quê: Chợ Mới – An Giang.
- Trong kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội hoạt động
ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954 ông tập kết ra Bắc và bắt
đầu viết văn.
- Trong kháng chiến chống Mỹ ông trở về Nam Bộ tham gia KC
và tiếp tục sáng tác văn học.
- Tác phẩm của ông có nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết,
kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người
Nam bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong hoà bình.
- Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT.
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh: Viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường
Nam bộ . In trong tập truyện cùng tên.
- Thể loại: truyện ngắn
- Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất ( người kể chuyện là bác Ba – bạn chiến
đấu của ông Sáu).
- Chủ đề: Tình cha con thiêng liêng, sâu nặng trong hoàn cảnh éo le
của chiến tranh.
- Bố cục
Đoạn 1: : Từ đầu…đến… “Nó nói trong tiếng nấc,
vừa nói vừa từ từ tuột xuống”. -> Tình cảm cha con
của bé Thu và ông Sáu trong ba ngày ông được nghỉ
phép.
Đoạn 2: Còn lại -> Ở khu căn cứ, ông Sáu làm chiếc
lược ngà tặng con.
II. PHÂN TÍCH
1. Ý nghĩa của tình huống truyện
- Tình huống 1: Đó là cuộc gặp gỡ của hai cha con
ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu
là bé Thu không nhận cha. Đến lúc em nhận ra và
biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải lên
đường.
- Tình huống 2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả
tình yêu thương và lòng mong nhớ đứa con vào
việc làm cây lược ngà để tặng con, nhưng ông đã
hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.
- Ý nghĩa:
+ Như vậy, nếu ở tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm
mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại
biểu lộ tình cảm sâu sắc, thắm thiết của ông Sáu với
con.
+ Tình huống truyện kịch tính, chứa nhiều yếu tố bất
ngờ tạo nên nghệ thuật thắt nút. Từ đó thể hiện tình cha
con thiêng liêng, sâu nặng.
+ Đặt các nhân vật của mình vào các tình huống éo le để
những tình cảm cha con được đẩy lên cao trào. Qua đó
tác giả muốn khẳng định một điều hết sức thiêng liêng:
Tình cảm cha con là bất tử mà không một súng đạn nào
có thể chia cắt được.
2. Ý nghĩa nhan đề của truyện
- “Chiếc lược ngà” là hình ảnh, chi tiết trung tâm
của tác phẩm, gắn kết cuộc đời, tính cách các
nhân vật và khắc họa sâu sắc nội dung truyện.
+ Với bé Thu, chiếc lược ngà là ước mơ, là món
quà đầu tiên và cũng là cuối cùng của người
cha. Bởi vậy nó là kỷ vật, là hình ảnh của người
cha.
+ Với ông Sáu, không chỉ là món quà ông dành
tặng con mà còn là hình bóng của cô con gái yêu
quý. Bởi vậy chiếc lược ngà là tất cả tình
thương, nỗi nhớ ông gởi gắm cho cô con gái bé
bỏng.
+ Với bác Ba, là sự trao gửi thiêng liêng giữa
người cán bộ cách mạng và đứa con gái của
người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường.
+ Với hai cha con ông Sáu, chiếc lược ngà là
biểu tượng thiêng liêng bất diệt và là cầu nối
tình cảm sâu nặng giữa hai cha con.
=> Với nhan đề này, nhà văn không chỉ nói lên tình
cha con sâu nặng trong chiến tranh mà còn cho
người đọc thấm thía những đau thương mất mát do
chiến tranh gây ra cho bao người, bao gia đình.
3. Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần cha
về thăm nhà
Diễn biến
tâm lí và
tình cảm
của bé
Thu
a. Thái độ và hành
động của Thu
trước khi nhận
ông Sáu là cha
b. Thái độ và
hành động của
Thu khi nhận ra
người cha:
Lúc vừa mới gặp
ông sáu
Những ngày sau đó
a.Trước khi nhận ông Sáu là cha
- Thu là một người yêu thương cha vô cùng -> khao khát được gặp
cha –> tình huống trớ trêu -> tình cảm của bé Thu lại bộc lộ một
cách bất thường.
+ Trước sự xúc động, vồ vập của ông Sáu, cô bé đi từ ngạc nhiên
đến hốt hoảng: tròn xoe mắt, mặt tái đi, vụt chạy và thét lên kêu
má.
+ Trong suốt ba ngày phép, khi ông Sáu càng dồn hết tình cảm để
bù đắp cho thu thì cô bé lại càng lạnh nhạt, xa cách, thậm chí là tỏ
ra ngang ngạnh, bướng bỉnh.
+ Cô bé kiên quyết không gọi ông Sáu một tiếng ba: nói trống
không với ông Sáu ( vô ăn cơm, cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái).
Trong lúc khó khăn nguy cấp khi phải chắt nước một nồi cơm to,
nặng quá sức thì cô bé vẫn loay hoay, tự xoay sở.
+ Cô bé từ chối mọi sự vỗ về, chăm sóc của
ông Sáu: Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho
nó miếng trứng cá thì nó hất ra khiến cơm
văng tung tóe,…
+ Khi bị trách phạt, phản ứng lại hành
động của ông Sáu, cô bé đã ngay lập tức bỏ
về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý
khoa dây lòi tói kêu rổn rảng thật to.
- Nguyên nhân:
+ Gián tiếp: Bé Thu sinh ra và lớn lên trong
hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh. Bởi
vậy, suốt tám năm, cô bé chỉ biết mặt ba qua
một tấm hình chụp chung với má.
+ Trực tiếp: Ngày gặp gỡ, vết sẹo trên mặt ông
Sáu đã khiến cho gương mặt ông khác lạ so với
hình ảnh người ba trong hình và tâm trí cô bé.
+ Do cô bé rất yêu ba, muốn bảo vệ hình ảnh
người ba của mình, không cho phép người lạ
mặt mạo nhận.
-> Sự ngang ngạch, bướng bỉnh của cô bé
không hề đáng trách. Đó là phản ứng tâm lí
hoàn toàn tự nhiên. Bởi sinh ra trong hoàn
cảnh chiến tranh, cô bé còn quá nhỏ để hiểu
được những khắc nghiệt, éo le. Và người
lớn cũng chưa kịp chuẩn bị tâm lí cho bé để
đón nhận những điều bất thường.
-> Tái hiện hoàn cảnh éo le của chiến tranh,
đồng thời khắc họa được một cô bé bướng
bỉnh, gan góc, cá tính và giàu tình yêu
thương cha.
- Nó bỗng kêu thét lên:
“Ba...a...a...ba!”
- Nhanh như một con sóc, nó
chạy thót lên, dang hai tay ôm
chặt lấy cổ ba.
b. Thái độ và
hành động
của Thu khi
nhận ra
người cha
- Nói trong tiếng khóc: “Ba!
Không cho ba đi nữa! Ba ở
nhà với con!”
- Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai,
hôn vết thẹo dài;
- Dang cả hai chân, rồi câu
chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé của
nó run run.
- Ba về! ba mua cho con một
cây lược nghe ba!
Thái độ và
hành động thay
đổi đột ngột:
bày tỏ tình cảm
với cha một
cách vồ vập, hối
hả, cuống quýt,
mạnh mẽ…
Thu có cá tính
mạnh mẽ, cứng
cỏi nhưng rất
ngây thơ, hồn
nhiên và có tình
yêu cha mãnh
liệt, sâu sắc.
4. Tình cảm của ông Sáu dành cho con:
- Tình người cha cứ nôn nao trong anh.
Khi
được về
thăm
nhà
- Xuồng vào bến, thấy con, không chờ
xuồng cặp bến, anh nhún chân nhảy
thót lên...
- Vội vàng bước lại, kêu to: Thu! Con.
- Anh nghĩ con sẽ chạy xô vào lòng
anh... anh khom người đưa tay chờ
con.
- Xúc động, giọng lập bập: Ba đây
con!
- Đứng sững lại, nhìn con đau đớn, mặt
sầm lại đáng thương, hai tay buông
thõng như bị gãy.
Yêu con,
nhớ con,
khao khát
được gặp
con, bù đắp
tình cảm cho
con.
Đau đớn, xót
xa tột cùng.
Những
ngày ở
nhà
- Ông chẳng đi đâu xa,
lúc nào cũng tìm cách vỗ
về, gần gũi con.
- Buồn bã, khổ tâm
trước sự cự tuyệt của
con.
- Không kìm nén nổi
trước sự ương ngạnh
của con, ông vung tay
đánh vào mông nó.
Đau đớn, buồn
khổ tột cùng khi
bị con xa lánh, cự
tuyệt tình cảm.
- Muốn ôm con, hôn
con nhưng chỉ dám
đứng từ xa nhìn con.
* Khi chia
tay
- Không ghìm được xúc
động, vừa ôm con, vừa
lau nước mắt, hôn lên
mái tóc con.
- Hứa với con sẽ trở về
với chiếc lược tặng con.
Sung sướng, hạnh
phúc và thỏa
nguyện khi được
đón nhận tình
con, cảm nhận
được tình phụ tử
thiêng liêng.
- Nhớ con, ân hận, ray rứt vì đã lỡ tay đánh con.
- Sung sướng, hạnh phúc, hớn hở như một đứa trẻ
được quà khi tìm được khúc ngà.
* Khi ở
khu căn
cứ:
+ Dùng vỏ đạn làm cưa.
- Dồn hết tâm trí
vào việc làm chiếc
lược để tặng con:
+ Cưa từng chiếc răng lược, cố
công, tỉ mỉ như một người thợ
bạc.
+ Trên sống lưng cây lược anh gò
lưng, tẩm mẩn khắc dòng chữ :
“Yêu nhớ tặng Thu con của ba”
+ Nhớ con, anh mang lược ra
ngắm nghía rồi mài lên tóc cho
thêm bóng.
=> Chiếc lược là món quà đặc biệt của tình phụ tử mộc
mạc, đằm thắm, thiêng liêng .
Trước
lúc hy
sinh
- Ông Sáu gửi trao cây lược
cho người bạn chiến đấu
trong giờ phút cuối cùng của
cuộc đời.
-> Ông thực hiện bằng được
mong ước của con; luôn nhớ
đến con, rất mực yêu con và
dành cho con tất cả tình yêu
thương cháy bỏng.
Tình phụ tử
thiêng liêng
bất diệt.
Cho đoạn trích sau:
“Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh,
sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi,
con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi
xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật,
trông rất dễ sợ.”
(Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng)
Câu 1: Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích trên là những ai? Tại sao trong
đoạn trích trên, nhân vật con bé còn “ngơ ngác, lạ lùng” nhưng đến phần sau của
truyện lại có sự thay đổi “Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má
của ba nó nữa”?
Câu 2: Xác định và gọi tên thành phần biệt lập có trong câu “Với lòng mong nhớ của
anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh.”
Câu 3: Theo trình tự cốt truyện thì đoạn trích nằm ở tình huống nào? Ý nghĩa của tình
huống này là gì? Theo em, chi tiết “vết thẹo dài bên má phải” của nhân vật “anh”
trong truyện ngắn này có ý nghĩa như thế nào trong việc xây dựng cốt truyện và bộc lộ
chủ đề?
Câu 4: Viết một đoạn văn từ 10 - 12 câu theo phép lập luận tổng - phân - hợp nêu
cảm nhận của em về tình cảm của nhân vật “con bé” dành cho ba trong truyện ngắn
“Chiếc lược ngà”. Trong đoạn văn có sử dụng một câu mở rộng thành phần và một
phép liên kết.
Câu 1: Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích
trên là những ai? Tại sao trong đoạn trích trên, nhân
vật con bé còn “ngơ ngác, lạ lùng” nhưng đến phần
sau của truyện lại có sự thay đổi “Nó hôn tóc, hôn cổ,
hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”?
- Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích trên là
ông Sáu và bé Thu.
- Vì:
+ Lúc đầu, bé Thu không nhận ra ba sau tám năm xa
cách và do vết thẹo khiến ông Sáu khác với người ba
trong ảnh.
+ Được bà ngoại giải thích, bé Thu nhận ra ba nên đó
là biểu hiện của tình yêu dành cho ba của cô bé.
Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu “Với lòng mong nhớ của anh,
chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy
cổ anh.”
- Xác định và gọi tên một thành phần biệt lập có trong câu “chắc”
- Thành phần biệt lập tình thái.
Câu 3: Tình huống gắn với đoạn trích, ý nghĩa tình huống và chi
tiết “vết thẹo dài bên má phải”:
- Theo trình tự cốt truyện thì đoạn trích nằm ở tình huống thứ 1: Ông
Sáu trở về sau tám năm xa cách nhưng bé Thu lại không nhận ra ba,
đến khi cô bé nhận ra thì là lúc ông Sáu phải lên đường.
- Ý nghĩa của tình huống: Bộc lộ tình yêu ba mãnh liệt của bé Thu.
- Ý nghĩa chi tiết “vết thẹo dài bên má phải” của nhân vật “anh”:
+ Chi tiết có vai trò rất quan trọng nếu không có thì cốt truyện sẽ
không phát triển được hoặc phát triển theo chiều hướng khác.
+ Là sự khẳng định tình yêu bé Thu dành cho cha, khẳng định tình cha
con sâu nặng.
Câu 4: Viết đoạn văn về tình cảm của nhân vật “con bé”
dành cho ba trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”:
Khai thác nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện, ngôi
kể, miêu tả tâm lí trẻ em..., thông qua các dẫn chứng để
thấy được tình cảm của bé Thu đối với ông Sáu.
- Trước khi nhận ra ông Sáu là ba: Cô bé bướng bỉnh,
ương ngạnh và cứng đầu Tình cảm chân thật nhưng
cũng thật dứt khoát, rạch ròi, chỉ yêu khi biết chắc đó là
ba mình.
- Khi nhận ra ông Sáu là ba:
+ Trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động
của cô bé đột ngột thay đổi.
+ Hiểu lầm được gỡ bỏ sự ân hận giày vò tình yêu
với ba bùng cháy mãnh liệt trong buổi chia tay.
Tình cảm dành cho ba sâu sắc, mạnh mẽ.
Dưới đây là đoạn trích trong truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn
Quang Sáng):
“Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người,
anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ
nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi
mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé
bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó
thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy
trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba... a... a... ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi
người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao
nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu
vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai
tay ôm chặt lấy cổ ba nó.”
Câu 1: Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, những tình huống
nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và
bé Thu?
- Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách nhưng bé Thu
không nhận ra cha, đến lúc bé nhận ra cha và biểu lộ tình cảm
thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi.
- Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và mong
nhớ con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con nhưng chưa
kịp trao thì ông đã hi sinh.
Câu 2: Chỉ ra 2 lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên
và chuyển chúng thành những lời dẫn gián tiếp.
- Thôi! Ba đi nghe con!
- Ba…a...a...ba!
Câu 3: Bằng hiểu biết của em về tác phẩm, em hãy cho biết hình
ảnh chiếc lược ngà trong truyện có ý nghĩa như thế nào?
- Hình ảnh chiếc lược ngà là kết tinh của tình phụ tử sâu nặng giữa ông
Sáu và bé Thu.
- Nó là biết bao tâm huyết của ông Sáu: ông cưa từng chiếc răng thận
trọng, tỉ mỉ như người thợ bạc. Chiếc lược ấy đã trở thành một báu vật
thiêng liêng chứa đựng bao niềm thương, nỗi nhớ của ông dành cho bé
Thu. Mỗi lần ngắm chiếc lược thì nỗi nhớ con lại càng dâng trào trong
ông Sáu nhưng cũng chính chiếc lược đã phần nào xoa dịu nỗi ân hận
khi đã đánh con. Nhưng báu vật đó chưa được trao đến người con yêu
thương của mình thì ông Sáu đã hi sinh! Trước lúc hi sinh, ông không
còn đủ sức để trăng trối, chỉ chút hết tàn lực cuối cùng trao chiếc lược
cho người đồng đội của mình. Và chính chiếc lược kì lạ ấy đã biến
người đồng đội của ông Sáu thành một người ba - người ba thứ hai của
bé Thu.
- Qua đó ta thấy rõ hình ảnh chiếc lược là tượng trưng cho tình cảm của
ông Sáu giành cho đứa con thân yêu của mình và là hình ảnh của một
tình phụ tử thiêng liêng bất diệt!
Câu 4: Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn
dịch làm rõ tình cảm cha con sâu nặng, cảm động của ông Sáu và bé
Thu trong cảnh chia tay, trong đó có sử dụng kiểu câu phủ định
mang ý nghĩa khẳng định và phép lặp để liên kết (gạch dưới câu
phủ định mang ý nghĩa khẳng định và các từ ngữ được sử dụng
trong phép lặp)
- Tình huống éo le: ông Sáu phải vào chiến trường sau ba ngày
phép, lúc này bé Thu mới nhận ra ba.
- Tình yêu thương mãnh liệt bé Thu dành cho ba thể hiện ở các chi
tiết như tiếng gọi ba, cử chỉ, hành động dành cho ba...
- Tình yêu thương con sâu sắc ở ông Sáu biểu lộ qua những chi tiết
diễn tả tâm trạng, cử chỉ, đặc biệt là ánh nhìn của ông dành cho
con... Từ những cảm nhận trên, cần khẳng định thành công của tác
giả trong việc tạo tình huống, miêu tả tâm lí nhân vật nhằm làm nổi
bật tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến
tranh.
Cho đoạn trích:
“Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt
nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má”. Còn anh, anh
đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị gãy.”
Câu 1: Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm nào của ai? Kể tên hai
nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
Câu 2: Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh
đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị gãy.”
Câu 3: Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm
vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến
nhân vật “anh” đau đớn. Vì sao vậy?
Hãy viết một đoạn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy
nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của người cha đối với con trong tác
phẩm trên, trong đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế
(Gạch dưới câu bị động và phép thế).
Câu 1: Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm nào của ai? Kể tên
hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
- Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược ngà” của
Nguyễn Quang Sáng.
- Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích
là ông Sáu và bé Thu.
Câu 2: Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh
đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm
lại trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị
gãy.”
Thành phần khởi ngữ: “Còn anh”
Câu 3: Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ
ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu
chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn.
Vì sao vậy?
- Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược
ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
- Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong
đoạn trích là ông Sáu và bé Thu.
Câu 4: Hãy viết một đoạn nghị luận khoảng 12 câu
theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng
của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong
đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế (Gạch
dưới câu bị động và phép thế).
- Yêu cầu:
+ Về hình thức: đoạn văn quy nạp, khoảng 12 câu.
+ Tiếng Việt: đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép
thế.
+ Nội dung: tình cảm sâu nặng của người cha đối với
con trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”
- Khi anh Sáu về thăm nhà:
+ Khao khát, nôn nóng muốn gặp con
+ Đau khổ, hụt hẫng khi con sợ hãi bỏ chạy.
- Những ngày ở nhà:
+ Không dám đi đâu xa.
+ Luôn tìm cách gần gũi, vỗ về con nhưng càng
gẫn gũi, con bé càng xa lánh, lạnh nhạt với anh.
+ Khao khát được con gọi một tiếng “ba” những
nó kiên quyết không gọi.
+ Quan, tâm chăm sóc con thì nó từ chối, hắt hủi.
=> Đau đớn, buồn bã, khổ tâm.
- Trước lúc lên đường:
+ Muốn ôm con, hôn con nhưng sợ con lại bỏ chạy
nên chỉ dám đứng nhìn từ xa với ánh mắt buồn
rầu, trìu mến.
+ Một tay bế con, một tay lau nước mắt.
+ Thỏa nguyện, hạnh phúc vỡ òa trước tiếng gọi
và tình cảm của con.
- Khi anh Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ:
+ Ân hận, day dứt vì khi ở nhà đã lỡ tay đánh con.
+ Lời hứa với con trước lúc lên đường thôi thúc anh làm chiếc lược
tặng con.
+ Sung sướng như đứa trẻ nhận được quà khi tìm được khúc ngà.
+ Dùng vỏ đạn làm cưa.
+ Cưa từng chiếc răng lược thận trọng, cố công, tỉ mỉ như người thợ
bạc.
+ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò
lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.
+ Mỗi lúc rảnh rỗi, thường mang chiếc lược ra ngắm nghía và mài
lên mái tóc cho nó thêm bóng.
+ Chiếc lược chưa chải được mái tóc của con nhưng phần nào gỡ
rối được trong lòng anh khiến anh không còn nhiều day dứt, ân
hận với con.
- Trước lúc hy sinh:
+ Không còn đủ sức trăng trối điều gì, anh đã “đưa
tay vào túi, móc cây lược” đưa cho bác Ba, nhìn bác
Ba hồi lâu.
Cây lược ngà trở thành kỷ vật minh chứng cho
tình yêu con thắm thiết, sâu nặng của anh Sáu, của
người chiến sỹ Cách mạng với đứa con gái bé nhỏ
trong hoàn cảnh chiến tranh đầy éo le, đau thương,
mất mát. Anh Sáu hy sinh, nhưng tình cha còn
không bao giờ mất.
ĐỀ SỐ 4
Dưới đây là trích đoạn trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”:
“Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén của nó. Nó
liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi thất thần hất cái trắng ra cơm văng tung tóe cả
mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
- Sao mày cứng đầu quá vậy hả?”
Câu 1: “Chiếc lược ngà” được viết năm nào? Ghi lại từ mang màu sắc Nam Bộ
trong đoạn trích trên.
Câu 2: Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó
bộc lộ tình cảm như thế nào đối với nhân vật ông Sáu? Lời kể in nghiêng trong
đoạn trích trên giúp em nhận biết mục đích nói ở câu văn có hình thức nghi vấn
sau đó là gì?
Câu 3: Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình
cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Ở đó có sử dụng
câu có thành phần biệt lập và phép lặp để liên kết (gạch dưới thành phần biệt lập
và từ ngữ sử dụng làm phép lặp).
Câu 4: Kể tên một tác phẩm khác của chương trình ngữ văn 9, trong đó có nhân
vật người cha vì chiến tranh mà chia cách, khi trở về đứa con trai cũng hoài nghi
xa lánh. Nêu suy nghĩ của em về chiến tranh (không quá 5 dòng).
ĐỀ SỐ 5
Cảnh chia tay của cha con ông Sáu:
“Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước
mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi.”
(Sách Ngữ Văn 9, tập một)
Câu 1: Vì sao khi chứng kiến giây phút này, “bà con xung quanh”
và nhân vật “tôi” lại có cảm xúc như vậy?
Câu 2: Người kể chuyện ở đây là ai? Cách chọn vai kể ấy góp phần
như thế nào để tạo nên sự thành công của “Chiếc lược ngà”?
Câu 3: Kể tên hai tác phẩm khác viết về đề tài cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta mà em đã được học trong
chương trình Ngữ Văn 9 và ghi rõ tên tác giả.
CHỦ ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: “CHIẾC LƯỢC NGÀ”
- NGUYỄN THÀNH LONG
I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tác giả
- Nguyễn Quang Sáng ( 1932 – 2014).
- Quê: Chợ Mới – An Giang.
- Trong kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội hoạt động
ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954 ông tập kết ra Bắc và bắt
đầu viết văn.
- Trong kháng chiến chống Mỹ ông trở về Nam Bộ tham gia KC
và tiếp tục sáng tác văn học.
- Tác phẩm của ông có nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết,
kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người
Nam bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong hoà bình.
- Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT.
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh: Viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường
Nam bộ . In trong tập truyện cùng tên.
- Thể loại: truyện ngắn
- Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất ( người kể chuyện là bác Ba – bạn chiến
đấu của ông Sáu).
- Chủ đề: Tình cha con thiêng liêng, sâu nặng trong hoàn cảnh éo le
của chiến tranh.
- Bố cục
Đoạn 1: : Từ đầu…đến… “Nó nói trong tiếng nấc,
vừa nói vừa từ từ tuột xuống”. -> Tình cảm cha con
của bé Thu và ông Sáu trong ba ngày ông được nghỉ
phép.
Đoạn 2: Còn lại -> Ở khu căn cứ, ông Sáu làm chiếc
lược ngà tặng con.
II. PHÂN TÍCH
1. Ý nghĩa của tình huống truyện
- Tình huống 1: Đó là cuộc gặp gỡ của hai cha con
ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu
là bé Thu không nhận cha. Đến lúc em nhận ra và
biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải lên
đường.
- Tình huống 2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả
tình yêu thương và lòng mong nhớ đứa con vào
việc làm cây lược ngà để tặng con, nhưng ông đã
hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.
- Ý nghĩa:
+ Như vậy, nếu ở tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm
mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại
biểu lộ tình cảm sâu sắc, thắm thiết của ông Sáu với
con.
+ Tình huống truyện kịch tính, chứa nhiều yếu tố bất
ngờ tạo nên nghệ thuật thắt nút. Từ đó thể hiện tình cha
con thiêng liêng, sâu nặng.
+ Đặt các nhân vật của mình vào các tình huống éo le để
những tình cảm cha con được đẩy lên cao trào. Qua đó
tác giả muốn khẳng định một điều hết sức thiêng liêng:
Tình cảm cha con là bất tử mà không một súng đạn nào
có thể chia cắt được.
2. Ý nghĩa nhan đề của truyện
- “Chiếc lược ngà” là hình ảnh, chi tiết trung tâm
của tác phẩm, gắn kết cuộc đời, tính cách các
nhân vật và khắc họa sâu sắc nội dung truyện.
+ Với bé Thu, chiếc lược ngà là ước mơ, là món
quà đầu tiên và cũng là cuối cùng của người
cha. Bởi vậy nó là kỷ vật, là hình ảnh của người
cha.
+ Với ông Sáu, không chỉ là món quà ông dành
tặng con mà còn là hình bóng của cô con gái yêu
quý. Bởi vậy chiếc lược ngà là tất cả tình
thương, nỗi nhớ ông gởi gắm cho cô con gái bé
bỏng.
+ Với bác Ba, là sự trao gửi thiêng liêng giữa
người cán bộ cách mạng và đứa con gái của
người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường.
+ Với hai cha con ông Sáu, chiếc lược ngà là
biểu tượng thiêng liêng bất diệt và là cầu nối
tình cảm sâu nặng giữa hai cha con.
=> Với nhan đề này, nhà văn không chỉ nói lên tình
cha con sâu nặng trong chiến tranh mà còn cho
người đọc thấm thía những đau thương mất mát do
chiến tranh gây ra cho bao người, bao gia đình.
3. Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần cha
về thăm nhà
Diễn biến
tâm lí và
tình cảm
của bé
Thu
a. Thái độ và hành
động của Thu
trước khi nhận
ông Sáu là cha
b. Thái độ và
hành động của
Thu khi nhận ra
người cha:
Lúc vừa mới gặp
ông sáu
Những ngày sau đó
a.Trước khi nhận ông Sáu là cha
- Thu là một người yêu thương cha vô cùng -> khao khát được gặp
cha –> tình huống trớ trêu -> tình cảm của bé Thu lại bộc lộ một
cách bất thường.
+ Trước sự xúc động, vồ vập của ông Sáu, cô bé đi từ ngạc nhiên
đến hốt hoảng: tròn xoe mắt, mặt tái đi, vụt chạy và thét lên kêu
má.
+ Trong suốt ba ngày phép, khi ông Sáu càng dồn hết tình cảm để
bù đắp cho thu thì cô bé lại càng lạnh nhạt, xa cách, thậm chí là tỏ
ra ngang ngạnh, bướng bỉnh.
+ Cô bé kiên quyết không gọi ông Sáu một tiếng ba: nói trống
không với ông Sáu ( vô ăn cơm, cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái).
Trong lúc khó khăn nguy cấp khi phải chắt nước một nồi cơm to,
nặng quá sức thì cô bé vẫn loay hoay, tự xoay sở.
+ Cô bé từ chối mọi sự vỗ về, chăm sóc của
ông Sáu: Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho
nó miếng trứng cá thì nó hất ra khiến cơm
văng tung tóe,…
+ Khi bị trách phạt, phản ứng lại hành
động của ông Sáu, cô bé đã ngay lập tức bỏ
về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý
khoa dây lòi tói kêu rổn rảng thật to.
- Nguyên nhân:
+ Gián tiếp: Bé Thu sinh ra và lớn lên trong
hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh. Bởi
vậy, suốt tám năm, cô bé chỉ biết mặt ba qua
một tấm hình chụp chung với má.
+ Trực tiếp: Ngày gặp gỡ, vết sẹo trên mặt ông
Sáu đã khiến cho gương mặt ông khác lạ so với
hình ảnh người ba trong hình và tâm trí cô bé.
+ Do cô bé rất yêu ba, muốn bảo vệ hình ảnh
người ba của mình, không cho phép người lạ
mặt mạo nhận.
-> Sự ngang ngạch, bướng bỉnh của cô bé
không hề đáng trách. Đó là phản ứng tâm lí
hoàn toàn tự nhiên. Bởi sinh ra trong hoàn
cảnh chiến tranh, cô bé còn quá nhỏ để hiểu
được những khắc nghiệt, éo le. Và người
lớn cũng chưa kịp chuẩn bị tâm lí cho bé để
đón nhận những điều bất thường.
-> Tái hiện hoàn cảnh éo le của chiến tranh,
đồng thời khắc họa được một cô bé bướng
bỉnh, gan góc, cá tính và giàu tình yêu
thương cha.
- Nó bỗng kêu thét lên:
“Ba...a...a...ba!”
- Nhanh như một con sóc, nó
chạy thót lên, dang hai tay ôm
chặt lấy cổ ba.
b. Thái độ và
hành động
của Thu khi
nhận ra
người cha
- Nói trong tiếng khóc: “Ba!
Không cho ba đi nữa! Ba ở
nhà với con!”
- Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai,
hôn vết thẹo dài;
- Dang cả hai chân, rồi câu
chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé của
nó run run.
- Ba về! ba mua cho con một
cây lược nghe ba!
Thái độ và
hành động thay
đổi đột ngột:
bày tỏ tình cảm
với cha một
cách vồ vập, hối
hả, cuống quýt,
mạnh mẽ…
Thu có cá tính
mạnh mẽ, cứng
cỏi nhưng rất
ngây thơ, hồn
nhiên và có tình
yêu cha mãnh
liệt, sâu sắc.
4. Tình cảm của ông Sáu dành cho con:
- Tình người cha cứ nôn nao trong anh.
Khi
được về
thăm
nhà
- Xuồng vào bến, thấy con, không chờ
xuồng cặp bến, anh nhún chân nhảy
thót lên...
- Vội vàng bước lại, kêu to: Thu! Con.
- Anh nghĩ con sẽ chạy xô vào lòng
anh... anh khom người đưa tay chờ
con.
- Xúc động, giọng lập bập: Ba đây
con!
- Đứng sững lại, nhìn con đau đớn, mặt
sầm lại đáng thương, hai tay buông
thõng như bị gãy.
Yêu con,
nhớ con,
khao khát
được gặp
con, bù đắp
tình cảm cho
con.
Đau đớn, xót
xa tột cùng.
Những
ngày ở
nhà
- Ông chẳng đi đâu xa,
lúc nào cũng tìm cách vỗ
về, gần gũi con.
- Buồn bã, khổ tâm
trước sự cự tuyệt của
con.
- Không kìm nén nổi
trước sự ương ngạnh
của con, ông vung tay
đánh vào mông nó.
Đau đớn, buồn
khổ tột cùng khi
bị con xa lánh, cự
tuyệt tình cảm.
- Muốn ôm con, hôn
con nhưng chỉ dám
đứng từ xa nhìn con.
* Khi chia
tay
- Không ghìm được xúc
động, vừa ôm con, vừa
lau nước mắt, hôn lên
mái tóc con.
- Hứa với con sẽ trở về
với chiếc lược tặng con.
Sung sướng, hạnh
phúc và thỏa
nguyện khi được
đón nhận tình
con, cảm nhận
được tình phụ tử
thiêng liêng.
- Nhớ con, ân hận, ray rứt vì đã lỡ tay đánh con.
- Sung sướng, hạnh phúc, hớn hở như một đứa trẻ
được quà khi tìm được khúc ngà.
* Khi ở
khu căn
cứ:
+ Dùng vỏ đạn làm cưa.
- Dồn hết tâm trí
vào việc làm chiếc
lược để tặng con:
+ Cưa từng chiếc răng lược, cố
công, tỉ mỉ như một người thợ
bạc.
+ Trên sống lưng cây lược anh gò
lưng, tẩm mẩn khắc dòng chữ :
“Yêu nhớ tặng Thu con của ba”
+ Nhớ con, anh mang lược ra
ngắm nghía rồi mài lên tóc cho
thêm bóng.
=> Chiếc lược là món quà đặc biệt của tình phụ tử mộc
mạc, đằm thắm, thiêng liêng .
Trước
lúc hy
sinh
- Ông Sáu gửi trao cây lược
cho người bạn chiến đấu
trong giờ phút cuối cùng của
cuộc đời.
-> Ông thực hiện bằng được
mong ước của con; luôn nhớ
đến con, rất mực yêu con và
dành cho con tất cả tình yêu
thương cháy bỏng.
Tình phụ tử
thiêng liêng
bất diệt.
Cho đoạn trích sau:
“Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh,
sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi,
con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi
xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật,
trông rất dễ sợ.”
(Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng)
Câu 1: Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích trên là những ai? Tại sao trong
đoạn trích trên, nhân vật con bé còn “ngơ ngác, lạ lùng” nhưng đến phần sau của
truyện lại có sự thay đổi “Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má
của ba nó nữa”?
Câu 2: Xác định và gọi tên thành phần biệt lập có trong câu “Với lòng mong nhớ của
anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh.”
Câu 3: Theo trình tự cốt truyện thì đoạn trích nằm ở tình huống nào? Ý nghĩa của tình
huống này là gì? Theo em, chi tiết “vết thẹo dài bên má phải” của nhân vật “anh”
trong truyện ngắn này có ý nghĩa như thế nào trong việc xây dựng cốt truyện và bộc lộ
chủ đề?
Câu 4: Viết một đoạn văn từ 10 - 12 câu theo phép lập luận tổng - phân - hợp nêu
cảm nhận của em về tình cảm của nhân vật “con bé” dành cho ba trong truyện ngắn
“Chiếc lược ngà”. Trong đoạn văn có sử dụng một câu mở rộng thành phần và một
phép liên kết.
Câu 1: Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích
trên là những ai? Tại sao trong đoạn trích trên, nhân
vật con bé còn “ngơ ngác, lạ lùng” nhưng đến phần
sau của truyện lại có sự thay đổi “Nó hôn tóc, hôn cổ,
hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”?
- Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích trên là
ông Sáu và bé Thu.
- Vì:
+ Lúc đầu, bé Thu không nhận ra ba sau tám năm xa
cách và do vết thẹo khiến ông Sáu khác với người ba
trong ảnh.
+ Được bà ngoại giải thích, bé Thu nhận ra ba nên đó
là biểu hiện của tình yêu dành cho ba của cô bé.
Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu “Với lòng mong nhớ của anh,
chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy
cổ anh.”
- Xác định và gọi tên một thành phần biệt lập có trong câu “chắc”
- Thành phần biệt lập tình thái.
Câu 3: Tình huống gắn với đoạn trích, ý nghĩa tình huống và chi
tiết “vết thẹo dài bên má phải”:
- Theo trình tự cốt truyện thì đoạn trích nằm ở tình huống thứ 1: Ông
Sáu trở về sau tám năm xa cách nhưng bé Thu lại không nhận ra ba,
đến khi cô bé nhận ra thì là lúc ông Sáu phải lên đường.
- Ý nghĩa của tình huống: Bộc lộ tình yêu ba mãnh liệt của bé Thu.
- Ý nghĩa chi tiết “vết thẹo dài bên má phải” của nhân vật “anh”:
+ Chi tiết có vai trò rất quan trọng nếu không có thì cốt truyện sẽ
không phát triển được hoặc phát triển theo chiều hướng khác.
+ Là sự khẳng định tình yêu bé Thu dành cho cha, khẳng định tình cha
con sâu nặng.
Câu 4: Viết đoạn văn về tình cảm của nhân vật “con bé”
dành cho ba trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”:
Khai thác nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện, ngôi
kể, miêu tả tâm lí trẻ em..., thông qua các dẫn chứng để
thấy được tình cảm của bé Thu đối với ông Sáu.
- Trước khi nhận ra ông Sáu là ba: Cô bé bướng bỉnh,
ương ngạnh và cứng đầu Tình cảm chân thật nhưng
cũng thật dứt khoát, rạch ròi, chỉ yêu khi biết chắc đó là
ba mình.
- Khi nhận ra ông Sáu là ba:
+ Trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động
của cô bé đột ngột thay đổi.
+ Hiểu lầm được gỡ bỏ sự ân hận giày vò tình yêu
với ba bùng cháy mãnh liệt trong buổi chia tay.
Tình cảm dành cho ba sâu sắc, mạnh mẽ.
Dưới đây là đoạn trích trong truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn
Quang Sáng):
“Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người,
anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ
nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi
mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé
bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó
thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy
trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba... a... a... ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi
người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao
nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu
vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai
tay ôm chặt lấy cổ ba nó.”
Câu 1: Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, những tình huống
nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và
bé Thu?
- Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách nhưng bé Thu
không nhận ra cha, đến lúc bé nhận ra cha và biểu lộ tình cảm
thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi.
- Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và mong
nhớ con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con nhưng chưa
kịp trao thì ông đã hi sinh.
Câu 2: Chỉ ra 2 lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên
và chuyển chúng thành những lời dẫn gián tiếp.
- Thôi! Ba đi nghe con!
- Ba…a...a...ba!
Câu 3: Bằng hiểu biết của em về tác phẩm, em hãy cho biết hình
ảnh chiếc lược ngà trong truyện có ý nghĩa như thế nào?
- Hình ảnh chiếc lược ngà là kết tinh của tình phụ tử sâu nặng giữa ông
Sáu và bé Thu.
- Nó là biết bao tâm huyết của ông Sáu: ông cưa từng chiếc răng thận
trọng, tỉ mỉ như người thợ bạc. Chiếc lược ấy đã trở thành một báu vật
thiêng liêng chứa đựng bao niềm thương, nỗi nhớ của ông dành cho bé
Thu. Mỗi lần ngắm chiếc lược thì nỗi nhớ con lại càng dâng trào trong
ông Sáu nhưng cũng chính chiếc lược đã phần nào xoa dịu nỗi ân hận
khi đã đánh con. Nhưng báu vật đó chưa được trao đến người con yêu
thương của mình thì ông Sáu đã hi sinh! Trước lúc hi sinh, ông không
còn đủ sức để trăng trối, chỉ chút hết tàn lực cuối cùng trao chiếc lược
cho người đồng đội của mình. Và chính chiếc lược kì lạ ấy đã biến
người đồng đội của ông Sáu thành một người ba - người ba thứ hai của
bé Thu.
- Qua đó ta thấy rõ hình ảnh chiếc lược là tượng trưng cho tình cảm của
ông Sáu giành cho đứa con thân yêu của mình và là hình ảnh của một
tình phụ tử thiêng liêng bất diệt!
Câu 4: Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn
dịch làm rõ tình cảm cha con sâu nặng, cảm động của ông Sáu và bé
Thu trong cảnh chia tay, trong đó có sử dụng kiểu câu phủ định
mang ý nghĩa khẳng định và phép lặp để liên kết (gạch dưới câu
phủ định mang ý nghĩa khẳng định và các từ ngữ được sử dụng
trong phép lặp)
- Tình huống éo le: ông Sáu phải vào chiến trường sau ba ngày
phép, lúc này bé Thu mới nhận ra ba.
- Tình yêu thương mãnh liệt bé Thu dành cho ba thể hiện ở các chi
tiết như tiếng gọi ba, cử chỉ, hành động dành cho ba...
- Tình yêu thương con sâu sắc ở ông Sáu biểu lộ qua những chi tiết
diễn tả tâm trạng, cử chỉ, đặc biệt là ánh nhìn của ông dành cho
con... Từ những cảm nhận trên, cần khẳng định thành công của tác
giả trong việc tạo tình huống, miêu tả tâm lí nhân vật nhằm làm nổi
bật tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến
tranh.
Cho đoạn trích:
“Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt
nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má”. Còn anh, anh
đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị gãy.”
Câu 1: Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm nào của ai? Kể tên hai
nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
Câu 2: Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh
đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị gãy.”
Câu 3: Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm
vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến
nhân vật “anh” đau đớn. Vì sao vậy?
Hãy viết một đoạn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy
nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của người cha đối với con trong tác
phẩm trên, trong đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế
(Gạch dưới câu bị động và phép thế).
Câu 1: Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm nào của ai? Kể tên
hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
- Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược ngà” của
Nguyễn Quang Sáng.
- Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích
là ông Sáu và bé Thu.
Câu 2: Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh
đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm
lại trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị
gãy.”
Thành phần khởi ngữ: “Còn anh”
Câu 3: Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ
ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu
chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn.
Vì sao vậy?
- Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược
ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
- Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong
đoạn trích là ông Sáu và bé Thu.
Câu 4: Hãy viết một đoạn nghị luận khoảng 12 câu
theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng
của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong
đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế (Gạch
dưới câu bị động và phép thế).
- Yêu cầu:
+ Về hình thức: đoạn văn quy nạp, khoảng 12 câu.
+ Tiếng Việt: đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép
thế.
+ Nội dung: tình cảm sâu nặng của người cha đối với
con trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”
- Khi anh Sáu về thăm nhà:
+ Khao khát, nôn nóng muốn gặp con
+ Đau khổ, hụt hẫng khi con sợ hãi bỏ chạy.
- Những ngày ở nhà:
+ Không dám đi đâu xa.
+ Luôn tìm cách gần gũi, vỗ về con nhưng càng
gẫn gũi, con bé càng xa lánh, lạnh nhạt với anh.
+ Khao khát được con gọi một tiếng “ba” những
nó kiên quyết không gọi.
+ Quan, tâm chăm sóc con thì nó từ chối, hắt hủi.
=> Đau đớn, buồn bã, khổ tâm.
- Trước lúc lên đường:
+ Muốn ôm con, hôn con nhưng sợ con lại bỏ chạy
nên chỉ dám đứng nhìn từ xa với ánh mắt buồn
rầu, trìu mến.
+ Một tay bế con, một tay lau nước mắt.
+ Thỏa nguyện, hạnh phúc vỡ òa trước tiếng gọi
và tình cảm của con.
- Khi anh Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ:
+ Ân hận, day dứt vì khi ở nhà đã lỡ tay đánh con.
+ Lời hứa với con trước lúc lên đường thôi thúc anh làm chiếc lược
tặng con.
+ Sung sướng như đứa trẻ nhận được quà khi tìm được khúc ngà.
+ Dùng vỏ đạn làm cưa.
+ Cưa từng chiếc răng lược thận trọng, cố công, tỉ mỉ như người thợ
bạc.
+ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò
lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.
+ Mỗi lúc rảnh rỗi, thường mang chiếc lược ra ngắm nghía và mài
lên mái tóc cho nó thêm bóng.
+ Chiếc lược chưa chải được mái tóc của con nhưng phần nào gỡ
rối được trong lòng anh khiến anh không còn nhiều day dứt, ân
hận với con.
- Trước lúc hy sinh:
+ Không còn đủ sức trăng trối điều gì, anh đã “đưa
tay vào túi, móc cây lược” đưa cho bác Ba, nhìn bác
Ba hồi lâu.
Cây lược ngà trở thành kỷ vật minh chứng cho
tình yêu con thắm thiết, sâu nặng của anh Sáu, của
người chiến sỹ Cách mạng với đứa con gái bé nhỏ
trong hoàn cảnh chiến tranh đầy éo le, đau thương,
mất mát. Anh Sáu hy sinh, nhưng tình cha còn
không bao giờ mất.
ĐỀ SỐ 4
Dưới đây là trích đoạn trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”:
“Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén của nó. Nó
liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi thất thần hất cái trắng ra cơm văng tung tóe cả
mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
- Sao mày cứng đầu quá vậy hả?”
Câu 1: “Chiếc lược ngà” được viết năm nào? Ghi lại từ mang màu sắc Nam Bộ
trong đoạn trích trên.
Câu 2: Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó
bộc lộ tình cảm như thế nào đối với nhân vật ông Sáu? Lời kể in nghiêng trong
đoạn trích trên giúp em nhận biết mục đích nói ở câu văn có hình thức nghi vấn
sau đó là gì?
Câu 3: Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình
cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Ở đó có sử dụng
câu có thành phần biệt lập và phép lặp để liên kết (gạch dưới thành phần biệt lập
và từ ngữ sử dụng làm phép lặp).
Câu 4: Kể tên một tác phẩm khác của chương trình ngữ văn 9, trong đó có nhân
vật người cha vì chiến tranh mà chia cách, khi trở về đứa con trai cũng hoài nghi
xa lánh. Nêu suy nghĩ của em về chiến tranh (không quá 5 dòng).
ĐỀ SỐ 5
Cảnh chia tay của cha con ông Sáu:
“Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước
mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi.”
(Sách Ngữ Văn 9, tập một)
Câu 1: Vì sao khi chứng kiến giây phút này, “bà con xung quanh”
và nhân vật “tôi” lại có cảm xúc như vậy?
Câu 2: Người kể chuyện ở đây là ai? Cách chọn vai kể ấy góp phần
như thế nào để tạo nên sự thành công của “Chiếc lược ngà”?
Câu 3: Kể tên hai tác phẩm khác viết về đề tài cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta mà em đã được học trong
chương trình Ngữ Văn 9 và ghi rõ tên tác giả.
 






Các ý kiến mới nhất