Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Danh_rang.jpg V1__KNTT_su_phan_chia_te_bao.flv Push_and_Pull_Song__A_simple_fun_kids_song_about_pushes_and_pulls.flv 2_phut.flv Screenshot_145.png Quan_sat_lo_tho_cua_la_su_dong_mo_cua_lo_tho_Khi_khong_duoi_kinh_hien_vi.flv 408475839207023969.flv 4772433765765916872.flv Z4151505423792_b6cbaaca3c5307c4e9b17ed601b1c804.jpg 20180703_152231.jpg 20180703_105136.jpg IMG_5655.JPG IMG_6031.JPG 36860783_2095912740676736_8573339710246617088_n.jpg IMG_20170529_095617.jpg TK_nam_hoc.bmp 16832136_787463894736832_5331767775058352854_n.jpg G2.JPG ImagesQ.jpg AN.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Chiếc lược ngà

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
    Ngày gửi: 07h:10' 05-08-2023
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    TRƯỜNG THCS TẢN LĨNH – BA VÌ

    CHỦ ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI

    VĂN BẢN: “CHIẾC LƯỢC NGÀ”

    - NGUYỄN THÀNH LONG

    I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1. Tác giả

    - Nguyễn Quang Sáng ( 1932 – 2014).
    - Quê: Chợ Mới – An Giang.
    - Trong kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội hoạt động
    ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954 ông tập kết ra Bắc và bắt
    đầu viết văn.
    - Trong kháng chiến chống Mỹ ông trở về Nam Bộ tham gia KC
    và tiếp tục sáng tác văn học.
    - Tác phẩm của ông có nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết,
    kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người
    Nam bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong hoà bình.
    - Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT.

    2. Tác phẩm
    - Hoàn cảnh: Viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường
    Nam bộ . In trong tập truyện cùng tên.
    - Thể loại: truyện ngắn
    - Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
    - Ngôi kể: Ngôi thứ nhất ( người kể chuyện là bác Ba – bạn chiến
    đấu của ông Sáu).
    - Chủ đề: Tình cha con thiêng liêng, sâu nặng trong hoàn cảnh éo le
    của chiến tranh.

    - Bố cục

    Đoạn 1: : Từ đầu…đến… “Nó nói trong tiếng nấc,
    vừa nói vừa từ từ tuột xuống”. -> Tình cảm cha con
    của bé Thu và ông Sáu trong ba ngày ông được nghỉ
    phép.
    Đoạn 2: Còn lại -> Ở khu căn cứ, ông Sáu làm chiếc
    lược ngà tặng con.

    II. PHÂN TÍCH

    1. Ý nghĩa của tình huống truyện
    - Tình huống 1: Đó là cuộc gặp gỡ của hai cha con
    ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu
    là bé Thu không nhận cha. Đến lúc em nhận ra và
    biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải lên
    đường.
    - Tình huống 2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả
    tình yêu thương và lòng mong nhớ đứa con vào
    việc làm cây lược ngà để tặng con, nhưng ông đã
    hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.

    - Ý nghĩa:
    + Như vậy, nếu ở tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm
    mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại
    biểu lộ tình cảm sâu sắc, thắm thiết của ông Sáu với
    con. 
    + Tình huống truyện kịch tính, chứa nhiều yếu tố bất
    ngờ tạo nên nghệ thuật thắt nút. Từ đó thể hiện tình cha
    con thiêng liêng, sâu nặng.
    + Đặt các nhân vật của mình vào các tình huống éo le để
    những tình cảm cha con được đẩy lên cao trào. Qua đó
    tác giả muốn khẳng định một điều hết sức thiêng liêng:
    Tình cảm cha con là bất tử mà không một súng đạn nào
    có thể chia cắt được.

    2. Ý nghĩa nhan đề của truyện
    - “Chiếc lược ngà” là hình ảnh, chi tiết trung tâm
    của tác phẩm, gắn kết cuộc đời, tính cách các
    nhân vật và khắc họa sâu sắc nội dung truyện.
    + Với bé Thu, chiếc lược ngà là ước mơ, là món
    quà đầu tiên và cũng là cuối cùng của người
    cha. Bởi vậy nó là kỷ vật, là hình ảnh của người
    cha.
    + Với ông Sáu, không chỉ là món quà ông dành
    tặng con mà còn là hình bóng của cô con gái yêu
    quý. Bởi vậy chiếc lược ngà là tất cả tình
    thương, nỗi nhớ ông gởi gắm cho cô con gái bé
    bỏng.

    + Với bác Ba, là sự trao gửi thiêng liêng giữa
    người cán bộ cách mạng và đứa con gái của
    người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường.
    + Với hai cha con ông Sáu, chiếc lược ngà là
    biểu tượng thiêng liêng bất diệt và là cầu nối
    tình cảm sâu nặng giữa hai cha con.
    => Với nhan đề này, nhà văn không chỉ nói lên tình
    cha con sâu nặng trong chiến tranh mà còn cho
    người đọc thấm thía những đau thương mất mát do
    chiến tranh gây ra cho bao người, bao gia đình.

    3. Diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần cha
    về thăm nhà

    Diễn biến
    tâm lí và
    tình cảm
    của bé
    Thu

    a. Thái độ và hành
    động của Thu
    trước khi nhận
    ông Sáu là cha
    b. Thái độ và
    hành động của
    Thu khi nhận ra
    người cha:

    Lúc vừa mới gặp
    ông sáu
    Những ngày sau đó

    a.Trước khi nhận ông Sáu là cha
    - Thu là một người yêu thương cha vô cùng -> khao khát được gặp
    cha –> tình huống trớ trêu -> tình cảm của bé Thu lại bộc lộ một
    cách bất thường.
    + Trước sự xúc động, vồ vập của ông Sáu, cô bé đi từ ngạc nhiên
    đến hốt hoảng: tròn xoe mắt, mặt tái đi, vụt chạy và thét lên kêu
    má.
    + Trong suốt ba ngày phép, khi ông Sáu càng dồn hết tình cảm để
    bù đắp cho thu thì cô bé lại càng lạnh nhạt, xa cách, thậm chí là tỏ
    ra ngang ngạnh, bướng bỉnh.
    + Cô bé kiên quyết không gọi ông Sáu một tiếng ba: nói trống
    không với ông Sáu ( vô ăn cơm, cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái).
    Trong lúc khó khăn nguy cấp khi phải chắt nước một nồi cơm to,
    nặng quá sức thì cô bé vẫn loay hoay, tự xoay sở.

    + Cô bé từ chối mọi sự vỗ về, chăm sóc của
    ông Sáu: Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho
    nó miếng trứng cá thì nó hất ra khiến cơm
    văng tung tóe,…
    + Khi bị trách phạt, phản ứng lại hành
    động của ông Sáu, cô bé đã ngay lập tức bỏ
    về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý
    khoa dây lòi tói kêu rổn rảng thật to.

    - Nguyên nhân:
    + Gián tiếp: Bé Thu sinh ra và lớn lên trong
    hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh. Bởi
    vậy, suốt tám năm, cô bé chỉ biết mặt ba qua
    một tấm hình chụp chung với má.
    + Trực tiếp: Ngày gặp gỡ, vết sẹo trên mặt ông
    Sáu đã khiến cho gương mặt ông khác lạ so với
    hình ảnh người ba trong hình và tâm trí cô bé.
    + Do cô bé rất yêu ba, muốn bảo vệ hình ảnh
    người ba của mình, không cho phép người lạ
    mặt mạo nhận.

    -> Sự ngang ngạch, bướng bỉnh của cô bé
    không hề đáng trách. Đó là phản ứng tâm lí
    hoàn toàn tự nhiên. Bởi sinh ra trong hoàn
    cảnh chiến tranh, cô bé còn quá nhỏ để hiểu
    được những khắc nghiệt, éo le. Và người
    lớn cũng chưa kịp chuẩn bị tâm lí cho bé để
    đón nhận những điều bất thường.
    -> Tái hiện hoàn cảnh éo le của chiến tranh,
    đồng thời khắc họa được một cô bé bướng
    bỉnh, gan góc, cá tính và giàu tình yêu
    thương cha.

    - Nó bỗng kêu thét lên:
    “Ba...a...a...ba!”
    - Nhanh như một con sóc, nó
    chạy thót lên, dang hai tay ôm
    chặt lấy cổ ba.
    b. Thái độ và
    hành động
    của Thu khi
    nhận ra
    người cha

    - Nói trong tiếng khóc: “Ba!
    Không cho ba đi nữa! Ba ở
    nhà với con!”
    - Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai,
    hôn vết thẹo dài;
    - Dang cả hai chân, rồi câu
    chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé của
    nó run run.
    - Ba về! ba mua cho con một
    cây lược nghe ba!

    Thái độ và
    hành động thay
    đổi đột ngột:
    bày tỏ tình cảm
    với cha một
    cách vồ vập, hối
    hả, cuống quýt,
    mạnh mẽ…

    Thu có cá tính
    mạnh mẽ, cứng
    cỏi nhưng rất
    ngây thơ, hồn
    nhiên và có tình
    yêu cha mãnh
    liệt, sâu sắc.

    4. Tình cảm của ông Sáu dành cho con:
    - Tình người cha cứ nôn nao trong anh.

    Khi
    được về
    thăm
    nhà

    - Xuồng vào bến, thấy con, không chờ
    xuồng cặp bến, anh nhún chân nhảy
    thót lên...
    - Vội vàng bước lại, kêu to: Thu! Con.
    - Anh nghĩ con sẽ chạy xô vào lòng
    anh... anh khom người đưa tay chờ
    con.
    - Xúc động, giọng lập bập: Ba đây
    con!
    - Đứng sững lại, nhìn con đau đớn, mặt
    sầm lại đáng thương, hai tay buông
    thõng như bị gãy.

    Yêu con,
    nhớ con,
    khao khát
    được gặp
    con, bù đắp
    tình cảm cho
    con.

    Đau đớn, xót
    xa tột cùng.

    Những
    ngày ở
    nhà

    - Ông chẳng đi đâu xa,
    lúc nào cũng tìm cách vỗ
    về, gần gũi con.
    - Buồn bã, khổ tâm
    trước sự cự tuyệt của
    con.
    - Không kìm nén nổi
    trước sự ương ngạnh
    của con, ông vung tay
    đánh vào mông nó.

    Đau đớn, buồn
    khổ tột cùng khi
    bị con xa lánh, cự
    tuyệt tình cảm.

    - Muốn ôm con, hôn
    con nhưng chỉ dám
    đứng từ xa nhìn con.
    * Khi chia
    tay

    - Không ghìm được xúc
    động, vừa ôm con, vừa
    lau nước mắt, hôn lên
    mái tóc con.
     - Hứa với con sẽ trở về
    với chiếc lược tặng con.

    Sung sướng, hạnh
    phúc và thỏa
    nguyện khi được
    đón nhận tình
    con, cảm nhận
    được tình phụ tử
    thiêng liêng.

    - Nhớ con, ân hận, ray rứt vì đã lỡ tay đánh con.
    - Sung sướng, hạnh phúc, hớn hở như một đứa trẻ
    được quà khi tìm được khúc ngà.
    * Khi ở
    khu căn
    cứ:

    + Dùng vỏ đạn làm cưa.

    - Dồn hết tâm trí
    vào việc làm chiếc
    lược để tặng con:

    + Cưa từng chiếc răng lược, cố
    công, tỉ mỉ như một người thợ
    bạc.
    + Trên sống lưng cây lược anh gò
    lưng, tẩm mẩn khắc dòng chữ :
    “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”
    + Nhớ con, anh mang lược ra
    ngắm nghía rồi mài lên tóc cho
    thêm bóng.

    => Chiếc lược là món quà đặc biệt của tình phụ tử mộc
    mạc, đằm thắm, thiêng liêng .

    Trước
    lúc hy
    sinh

    - Ông Sáu gửi trao cây lược
    cho người bạn chiến đấu
    trong giờ phút cuối cùng của
    cuộc đời.
    -> Ông thực hiện bằng được
    mong ước của con; luôn nhớ
    đến con, rất mực yêu con và
    dành cho con tất cả tình yêu
    thương cháy bỏng.

    Tình phụ tử
    thiêng liêng
    bất diệt.

    Cho đoạn trích sau:
    “Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh,
    sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi,
    con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi
    xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật,
    trông rất dễ sợ.”
    (Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng)
    Câu 1: Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích trên là những ai? Tại sao trong
    đoạn trích trên, nhân vật con bé còn “ngơ ngác, lạ lùng” nhưng đến phần sau của
    truyện lại có sự thay đổi “Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má
    của ba nó nữa”?
    Câu 2: Xác định và gọi tên thành phần biệt lập có trong câu “Với lòng mong nhớ của
    anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh.”
    Câu 3: Theo trình tự cốt truyện thì đoạn trích nằm ở tình huống nào? Ý nghĩa của tình
    huống này là gì? Theo em, chi tiết “vết thẹo dài bên má phải” của nhân vật “anh”
    trong truyện ngắn này có ý nghĩa như thế nào trong việc xây dựng cốt truyện và bộc lộ
    chủ đề?
    Câu 4: Viết một đoạn văn từ 10 - 12 câu theo phép lập luận tổng - phân - hợp nêu
    cảm nhận của em về tình cảm của nhân vật “con bé” dành cho ba trong truyện ngắn
    “Chiếc lược ngà”. Trong đoạn văn có sử dụng một câu mở rộng thành phần và một
    phép liên kết.

    Câu 1: Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích
    trên là những ai? Tại sao trong đoạn trích trên, nhân
    vật con bé còn “ngơ ngác, lạ lùng” nhưng đến phần
    sau của truyện lại có sự thay đổi “Nó hôn tóc, hôn cổ,
    hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”?
    - Nhân vật “anh” và “con bé” trong đoạn trích trên là
    ông Sáu và bé Thu.
    - Vì:
    + Lúc đầu, bé Thu không nhận ra ba sau tám năm xa
    cách và do vết thẹo khiến ông Sáu khác với người ba
    trong ảnh.
    + Được bà ngoại giải thích, bé Thu nhận ra ba nên đó
    là biểu hiện của tình yêu dành cho ba của cô bé.

    Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu “Với lòng mong nhớ của anh,
    chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy
    cổ anh.”
    - Xác định và gọi tên một thành phần biệt lập có trong câu “chắc”
    - Thành phần biệt lập tình thái.
    Câu 3: Tình huống gắn với đoạn trích, ý nghĩa tình huống và chi
    tiết “vết thẹo dài bên má phải”:
    - Theo trình tự cốt truyện thì đoạn trích nằm ở tình huống thứ 1: Ông
    Sáu trở về sau tám năm xa cách nhưng bé Thu lại không nhận ra ba,
    đến khi cô bé nhận ra thì là lúc ông Sáu phải lên đường.
    - Ý nghĩa của tình huống: Bộc lộ tình yêu ba mãnh liệt của bé Thu.
    - Ý nghĩa chi tiết “vết thẹo dài bên má phải” của nhân vật “anh”:
    + Chi tiết có vai trò rất quan trọng  nếu không có thì cốt truyện sẽ
    không phát triển được hoặc phát triển theo chiều hướng khác.
    + Là sự khẳng định tình yêu bé Thu dành cho cha, khẳng định tình cha
    con sâu nặng.

    Câu 4: Viết đoạn văn về tình cảm của nhân vật “con bé”
    dành cho ba trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”:
    Khai thác nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện, ngôi
    kể, miêu tả tâm lí trẻ em..., thông qua các dẫn chứng để
    thấy được tình cảm của bé Thu đối với ông Sáu.
    - Trước khi nhận ra ông Sáu là ba: Cô bé bướng bỉnh,
    ương ngạnh và cứng đầu  Tình cảm chân thật nhưng
    cũng thật dứt khoát, rạch ròi, chỉ yêu khi biết chắc đó là
    ba mình.
    - Khi nhận ra ông Sáu là ba:
    + Trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ và hành động
    của cô bé đột ngột thay đổi.
    + Hiểu lầm được gỡ bỏ  sự ân hận giày vò  tình yêu
    với ba bùng cháy mãnh liệt trong buổi chia tay.
     Tình cảm dành cho ba sâu sắc, mạnh mẽ.

    Dưới đây là đoạn trích trong truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn
    Quang Sáng):
    “Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người,
    anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
    Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ
    nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi
    mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé
    bỗng xôn xao.
    - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
    Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó
    thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy
    trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
    - Ba... a... a... ba!
    Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi
    người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao
    nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu
    vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai
    tay ôm chặt lấy cổ ba nó.”

    Câu 1: Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, những tình huống
    nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và
    bé Thu?
    - Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách nhưng bé Thu
    không nhận ra cha, đến lúc bé nhận ra cha và biểu lộ tình cảm
    thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi.
    - Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và mong
    nhớ con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con nhưng chưa
    kịp trao thì ông đã hi sinh.

    Câu 2: Chỉ ra 2 lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên
    và chuyển chúng thành những lời dẫn gián tiếp.
    - Thôi! Ba đi nghe con!
    - Ba…a...a...ba!

    Câu 3: Bằng hiểu biết của em về tác phẩm, em hãy cho biết hình
    ảnh chiếc lược ngà trong truyện có ý nghĩa như thế nào?
    - Hình ảnh chiếc lược ngà là kết tinh của tình phụ tử sâu nặng giữa ông
    Sáu và bé Thu.
    - Nó là biết bao tâm huyết của ông Sáu: ông cưa từng chiếc răng thận
    trọng, tỉ mỉ như người thợ bạc. Chiếc lược ấy đã trở thành một báu vật
    thiêng liêng chứa đựng bao niềm thương, nỗi nhớ của ông dành cho bé
    Thu. Mỗi lần ngắm chiếc lược thì nỗi nhớ con lại càng dâng trào trong
    ông Sáu nhưng cũng chính chiếc lược đã phần nào xoa dịu nỗi ân hận
    khi đã đánh con. Nhưng báu vật đó chưa được trao đến người con yêu
    thương của mình thì ông Sáu đã hi sinh! Trước lúc hi sinh, ông không
    còn đủ sức để trăng trối, chỉ chút hết tàn lực cuối cùng trao chiếc lược
    cho người đồng đội của mình. Và chính chiếc lược kì lạ ấy đã biến
    người đồng đội của ông Sáu thành một người ba - người ba thứ hai của
    bé Thu.
    - Qua đó ta thấy rõ hình ảnh chiếc lược là tượng trưng cho tình cảm của
    ông Sáu giành cho đứa con thân yêu của mình và là hình ảnh của một
    tình phụ tử thiêng liêng bất diệt!

    Câu 4: Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn
    dịch làm rõ tình cảm cha con sâu nặng, cảm động của ông Sáu và bé
    Thu trong cảnh chia tay, trong đó có sử dụng kiểu câu phủ định
    mang ý nghĩa khẳng định và phép lặp để liên kết (gạch dưới câu
    phủ định mang ý nghĩa khẳng định và các từ ngữ được sử dụng
    trong phép lặp)
    - Tình huống éo le: ông Sáu phải vào chiến trường sau ba ngày
    phép, lúc này bé Thu mới nhận ra ba.
    - Tình yêu thương mãnh liệt bé Thu dành cho ba thể hiện ở các chi
    tiết như tiếng gọi ba, cử chỉ, hành động dành cho ba...
    - Tình yêu thương con sâu sắc ở ông Sáu biểu lộ qua những chi tiết
    diễn tả tâm trạng, cử chỉ, đặc biệt là ánh nhìn của ông dành cho
    con... Từ những cảm nhận trên, cần khẳng định thành công của tác
    giả trong việc tạo tình huống, miêu tả tâm lí nhân vật nhằm làm nổi
    bật tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến
    tranh.

    Cho đoạn trích:
    “Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt
    nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má”. Còn anh, anh
    đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
    trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị gãy.”
     Câu 1: Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm nào của ai? Kể tên hai
    nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
     Câu 2: Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh
    đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại
    trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị gãy.”
     Câu 3: Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm
    vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến
    nhân vật “anh” đau đớn. Vì sao vậy?
    Hãy viết một đoạn nghị luận khoảng 12 câu theo phép lập luận quy
    nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của người cha đối với con trong tác
    phẩm trên, trong đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế
    (Gạch dưới câu bị động và phép thế).

    Câu 1: Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm nào của ai? Kể tên
    hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích.
    - Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược ngà” của
    Nguyễn Quang Sáng.
    - Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong đoạn trích
    là ông Sáu và bé Thu.
    Câu 2: Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh
    đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm
    lại trông thật đáng thương và hai tay buông thõng xuống như bị
    gãy.”
    Thành phần khởi ngữ: “Còn anh”

    Câu 3: Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ
    ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu
    chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn.
    Vì sao vậy?
    - Đoạn văn trên được rút từ tác phẩm “Chiếc lược
    ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
    - Hai nhân vật được người kể chuyện nhắc tới trong
    đoạn trích là ông Sáu và bé Thu.

    Câu 4: Hãy viết một đoạn nghị luận khoảng 12 câu
    theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng
    của người cha đối với con trong tác phẩm trên, trong
    đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép thế (Gạch
    dưới câu bị động và phép thế).
    - Yêu cầu:
    + Về hình thức: đoạn văn quy nạp, khoảng 12 câu.
    + Tiếng Việt: đoạn văn có sử dụng câu bị động và phép
    thế.
    + Nội dung: tình cảm sâu nặng của người cha đối với
    con trong tác phẩm “Chiếc lược ngà”

    - Khi anh Sáu về thăm nhà:
    + Khao khát, nôn nóng muốn gặp con
    + Đau khổ, hụt hẫng khi con sợ hãi bỏ chạy.
    - Những ngày ở nhà:
    + Không dám đi đâu xa.
    + Luôn tìm cách gần gũi, vỗ về con nhưng càng
    gẫn gũi, con bé càng xa lánh, lạnh nhạt với anh.
    + Khao khát được con gọi một tiếng “ba” những
    nó kiên quyết không gọi.
    + Quan, tâm chăm sóc con thì nó từ chối, hắt hủi.
    => Đau đớn, buồn bã, khổ tâm.

    - Trước lúc lên đường:
    + Muốn ôm con, hôn con nhưng sợ con lại bỏ chạy
    nên chỉ dám đứng nhìn từ xa với ánh mắt buồn
    rầu, trìu mến.
    + Một tay bế con, một tay lau nước mắt.
    + Thỏa nguyện, hạnh phúc vỡ òa trước tiếng gọi
    và tình cảm của con.

    - Khi anh Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ:
    + Ân hận, day dứt vì khi ở nhà đã lỡ tay đánh con.
    + Lời hứa với con trước lúc lên đường thôi thúc anh làm chiếc lược
    tặng con.
    + Sung sướng như đứa trẻ nhận được quà khi tìm được khúc ngà.
    + Dùng vỏ đạn làm cưa.
    + Cưa từng chiếc răng lược thận trọng, cố công, tỉ mỉ như người thợ
    bạc.
    + Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò
    lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.
    + Mỗi lúc rảnh rỗi, thường mang chiếc lược ra ngắm nghía và mài
    lên mái tóc cho nó thêm bóng.
    + Chiếc lược chưa chải được mái tóc của con nhưng phần nào gỡ
    rối được trong lòng anh khiến anh không còn nhiều day dứt, ân
    hận với con.

    - Trước lúc hy sinh:
    + Không còn đủ sức trăng trối điều gì, anh đã “đưa
    tay vào túi, móc cây lược” đưa cho bác Ba, nhìn bác
    Ba hồi lâu.
     Cây lược ngà trở thành kỷ vật minh chứng cho
    tình yêu con thắm thiết, sâu nặng của anh Sáu, của
    người chiến sỹ Cách mạng với đứa con gái bé nhỏ
    trong hoàn cảnh chiến tranh đầy éo le, đau thương,
    mất mát. Anh Sáu hy sinh, nhưng tình cha còn
    không bao giờ mất.

    ĐỀ SỐ 4
    Dưới đây là trích đoạn trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà”:
    “Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén của nó. Nó
    liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi thất thần hất cái trắng ra cơm văng tung tóe cả
    mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
    - Sao mày cứng đầu quá vậy hả?”
    Câu 1: “Chiếc lược ngà” được viết năm nào? Ghi lại từ mang màu sắc Nam Bộ
    trong đoạn trích trên.
    Câu 2: Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó
    bộc lộ tình cảm như thế nào đối với nhân vật ông Sáu? Lời kể in nghiêng trong
    đoạn trích trên giúp em nhận biết mục đích nói ở câu văn có hình thức nghi vấn
    sau đó là gì?
    Câu 3: Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình
    cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Ở đó có sử dụng
    câu có thành phần biệt lập và phép lặp để liên kết (gạch dưới thành phần biệt lập
    và từ ngữ sử dụng làm phép lặp).
    Câu 4: Kể tên một tác phẩm khác của chương trình ngữ văn 9, trong đó có nhân
    vật người cha vì chiến tranh mà chia cách, khi trở về đứa con trai cũng hoài nghi
    xa lánh. Nêu suy nghĩ của em về chiến tranh (không quá 5 dòng).

    ĐỀ SỐ 5
    Cảnh chia tay của cha con ông Sáu:
    “Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước
    mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi.”
    (Sách Ngữ Văn 9, tập một)
    Câu 1: Vì sao khi chứng kiến giây phút này, “bà con xung quanh”
    và nhân vật “tôi” lại có cảm xúc như vậy?
    Câu 2: Người kể chuyện ở đây là ai? Cách chọn vai kể ấy góp phần
    như thế nào để tạo nên sự thành công của “Chiếc lược ngà”?
    Câu 3: Kể tên hai tác phẩm khác viết về đề tài cuộc kháng chiến
    chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta mà em đã được học trong
    chương trình Ngữ Văn 9 và ghi rõ tên tác giả.
     
    Gửi ý kiến