Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 21h:13' 06-08-2023
Dung lượng: 352.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 21h:13' 06-08-2023
Dung lượng: 352.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Lí do khách quan
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo,
thực hiện chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục
đang tích cực từng bước đổi mới nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp dạy
học, đổi mới công tác dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Công
tác giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ rất quan trọng, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, nhằm hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Ngày nay, trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học có nhiều giáo viên đã
chuyển từ sử dụng phấn bảng truyền thống sang dùng Powerpoint và các trang web
như những phương tiện dạy học. Tuy nhiên, điều này cũng không thay đổi được bản
chất của quá trình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm”. Một lớp học với các phương
pháp dạy học lấy giáo viên làm trung tâm thường có đặc điểm: trong quá trình dạy
học giáo viên nói nhiều hơn học sinh; giảng giải chủ yếu bằng cách thuyết trình; sách
giáo khoa là tài liệu chính; bàn ghế được sắp xếp thành các dãy đối diện với bảng và
giáo viên; học sinh không được tự do di chuyển chỗ ngồi.
Trong khi đó, dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhấn mạnh tới vai trò chủ đạo
của người học, “được tìm hiểu và thể nghiệm”. Đặc điểm của một lớp học với dạy học
lấy học sinh làm trung tâm có đặc điểm: phần thảo luận của học sinh tương đương
thậm chí nhiều hơn giảng giải của giáo viên; các hoạt động học tập được cá nhân tiến
hành hoặc thực hiện trong các nhóm; học sinh có thể sử dụng nhiều tài liệu từ các
nguồn khác nhau như tạp chí, internet...các em có thể tự lựa chọn kiến thức phù hợp
với nội dung bài học; tự quyết định hướng đi phù hợp với nội dung bài học.
2. Lí do chủ quan
Một trong những đổi mới về phương pháp dạy học là đổi mới hoạt động dạy học
của giáo viên, đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, đổi mới đánh giá kết quả học
tập của học sinh, đổi mới phương tiện dạy học theo hướng tích cực. Dạy học theo dự
án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức
hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới
thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá
trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm
tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Kết quả dự án là những sản
phẩm có thể trình bày, giới thiệu. Vì vậy, song song với đổi mới nội dung, mục tiêu,
phương pháp dạy học để tích cực hóa hoạt động của học sinh thì đổi mới hình thức tổ
chức dạy học cũng rất cần thiết. Việc tổ chức học sinh học tập theo dự án không chỉ
giúp cho học sinh có được kiến thức bằng quá trình tự học, tự kiểm tra, đánh giá mà
còn phát triển cho học sinh các kĩ năng xã hội như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác,
kĩ năng thuyết trình trước đám đông…đảm bảo yêu cầu của việc dạy học lấy học sinh
làm trung tâm. Xuất phát từ những lý do trên và ưu điểm của dạy học dự án, tôi lựa
chọn đề tài: “Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh vật và môi trường, chương
trình Sinh học 9” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho HS.
Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp để tôi ngày càng được hoàn
thiện hơn trong nghề nghiệp.
II. Mục đích và đóng góp của đề tài
- Sử dụng hình thức dạy học theo dự án để dạy học phần kiến thức “Sinh vật và
môi trường” sinh học 9, THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học.
- Thiết kế các hoạt động để tổ chức dạy học theo dự án phần kiến thức “Sinh vật và
môi trường” sinh học 9 THCS.
- Một số bài giảng mẫu phần “Sinh vật và môi trường” sinh học 9 THCS sử dụng hình
thức dạy học theo dự án.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án.
- Xác định quy trình tổ chức của việc dạy học theo dự án.
- Xác định các kiến thức phần “Sinh vật và môi trường” sinh học 9 để thiết kế các
hoạt động dạy học theo dự án.
- Thực nghiệm sư phạm.
IV. Phạm vi nghiên cứu
1. Không gian
Tổ chức dạy học theo nhóm phần kiến thức phần “Sinh vật và môi trường” thuộc
sinh học 9 bậc THCS với mục đích hình thành tri thức mới tại Trường THCS Tản
Lĩnh
2. Thời gian
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã
thực hiện trong năm học 2020-2021 và 2021-2022
PHẦN HAI: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
I. Cơ sở lí luận của đề tài
1. Đặc điểm của dạy học theo dự án
Mục tiêu của dạy học theo dự án: Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội
dung học với cuộc sống thực; Tạo ra một sản phẩm; Thực hành nghiên cứu, Giải
quyết một vấn đề; Rèn luyện, phát triển nhiều kĩ năng: kĩ năng phát hiện và giải quyết
vấn đề, kĩ năng tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng
công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm.
Mang tính thực tiễn: Các dự án học tập có nội dung gắn liền với thực tiễn đời sống,
xã hội, có ý nghĩa thực tiễn, kết hợp giữa lý thuyết với thực hành và mang nội dung
tích hợp.
Tạo hứng thú người học: người học được tham gia chọn đề tài, nội dung phù hợp
với khả năng và hứng thú cá nhân, được tham gia thực hiện nhiệm vụ cũng như tạo ra
các sản phẩm, do đó thúc đẩy năng lực của mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiện dự
án.
Tính tích hợp: Nội dung các dự án học tập có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực
hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
Trong quá trình thực hiện dự án, người học phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tính tự lực cao của người học : Trong dạy học theo dự án, người dạy chủ yếu đóng
vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Vì vậy HS chính là chủ thể của dự án, bản thân
các em phải tích cực, nỗ lực để hoàn thiện dự án.
Phát huy khả năng làm việc theo nhóm: Các dự án thường được thực hiện theo
nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành
viên trong nhóm. Giữa các nhóm khác nhau cũng có sự thi đua lành mạnh, nhằm làm
cho mỗi nhóm đều cố gắng hoàn thành tốt sản phẩm của mình.
* Để một dự án có thể hoàn thành tốt cần:
- Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học.
- Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập phù hợp với nội dung bài học và liên hệ
tốt với các vấn đề của xã hội, đặc biệt là các vấn đề được nhiều người quan tâm.
- Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình.
- Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên.
- Dự án có liên hệ với thực tế, có ý nghĩa đối với xã hội.
- Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực
hiện.
- Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ và thúc đẩy việc hoàn thành dự án.
* Sản phẩm của dự án:
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo… Thông
thường, sản phẩm học sinh phải hoàn thành gồm:
- Bài thuyết trình trên powerpoint.
- Bài thuyết trình trên powerpoint hoặc word.
- Các đoạn video, hình ảnh mà học sinh tự làm dựa trên kết quả điều tra, chụp ảnh…
- Ngoài ra, các em có thể thiết kế các poster về nội dung dự án, các trang web…
2. Ý nghĩa của dự án
- Dạy học dự án (DHDA) có tính liên môn, có nghĩa là nhiều môn học liên kết
với nhau. Một dự án dù là của môn nào, cũng phải đòi hỏi kiến thức của nhiều môn
học để giải quyết. Do vậy, các em cần phải biêt tổng hợp kiến thức của các môn Địa
lý, Hóa học, Vật lý.. thì mới có thể hoàn thành được dự án.
* Đối với HS:
- Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu và vận dụng lý
thuyết vào trong hoạt động thực hành. Từ đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết về
mặt lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
- Rèn luyện kỹ năng: vận dụng kiến thức liên môn (Địa lý, Vật lý, Hóa học) để
giải thích mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức; rèn luyên kỹ năng hợp tác theo nhóm.
- Ngoài ra, các em còn được nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin
phục vụ cho học tập thông qua việc tự tìm tài liệu trên Internet , tự làm bài trên
Powerpoint, làm các đoạn film ngắn, có ý nghĩa trên các phần mềm làm film.
- Sau khi cho các em tự tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ở địa
phương, cho các em đi khảo sát thực tế và có một vài buổi ngoại khóa nhỏ thì các em
đã trở nên hứng thú, sôi nổi, tích cực học tập hơn rất nhiều.
* Đối với GV:
- Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung
tâm, trong DHDA, GV là chỉ là người hướng dẫn và tư vấn, giúp đỡ, khuyến khích
tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. chứ không phải là
“cầm tay chỉ việc” cho HS của mình.
- Vì thế, giáo viên cần phải có sự nhạy bén với các vấn đề nhạy cảm của xã hội,
liên kết các vấn đề đó, hình thành nên ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung
học, tạo vai trò cho HS trong dự án, làm cho vai trò của HS gắn với nội dung cần học
(thiết kế các bài tập cho học sinh)…
- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học,
đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, tăng cường ứng dụng hiệu
quả CNTT trong dạy học
3. Phạm vi áp dụng đề tài
Dạy học theo dự án: Là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, khuyến
khích học sinh tìm tòi, sử dụng những kiến thức mà các em đã được học trong nhiều
môn học khác nhau, liên kết những tri thức đó để tạo ra sản phẩm của chính mình.
Với hình thức dạy học này, GV có thể áp dụng vào dạy bài nội dung mới, những
bài ôn tập cuối chương, các tiết thực hành, hoặc GV có thể đưa ra một đề tài liên quan
với nội dung bài học nhưng có tính liên hệ thực tế.
Hình thức dạy học theo dự án không phải là hình thức dạy học mới mẻ trên thế
giới, nhưng đối với Việt Nam, hình thức này mới chỉ được áp dụng trong những năm
gần đây, đặc biệt là đối với HS bậc trung học phổ thông và trung học cơ sở. Chính vì
thế, việc vận dụng nó như thế nào vẫn còn là vấn đề phân vân của các GV.
Trong quá trình giảng dạy, chính bản thân tôi cũng không thể phủ nhận các
phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình, vấn đáp..) vì nhờ những phương
pháp này mà các em có được kiến thức của các môn học. Vì thế, vận dụng linh hoạt
phương pháp cũ và phương pháp mới để phù hợp với nội dung kiến thức bài học là
điều cần thiết.
II. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1. Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học Sinh học
ở trường trung học cơ sở Tản Lĩnh
- Không có phương pháp dạy học nào được đánh giá là hoàn toàn tích cực hay không
tích cực; nghĩa là không có phương pháp nào là tối ưu trong dạy học.
- Hình thức dạy học theo dự án trong dạy học phần Sinh vật và môi trường (Sinh học
9) ở các trường trung học cơ sở hầu hết vẫn chưa được tiến hành, và nếu có thì vẫn
chưa đúng hình thức.
- Có những giờ học được thực hiện bằng phương pháp dạy học theo dự án nhưng ở
những hình thức khác nhau như bài tập nhóm, bài sưu tầm, bài thí nghiệm và chưa
tuân
theo
quy
trình
đầy
đủ
của
dạy
học
dự
án.
- Đối với HS: Các em vẫn còn rất bỡ ngỡ với hình thức học khá mới mẻ này. Tuy
nhiên, khi được giao nhiệm vụ để bắt tay vào làm dự án các em tỏ ra rất phấn khởi và
thực hiện một cách tích cực, hiệu quả. Vì thế, nếu vận dụng tốt hình thức dạy học theo
dự án vào dạy học phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9) chắc chắn sẽ mang lại
hiệu quả cao.
2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài
Mức độ hứng thú của học sinh lớp 9D, 9G trường THCS Tản Lĩnh trong năm học
2020 - 2021 như sau:
Tổng số
Mức độ hứng thú với môn học
HS
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích
80
9
17
36
18
Tỉ lệ %
11,25
21,25
45
22,5
Qua kết quả trên chúng ta thấy được tỉ lệ học sinh có hứng thú còn thấp, tỉ lệ học
sinh bình thường và không thích còn ở mức cao.
CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I. Quy trình, kĩ thuật đánh giá kết quả học tập theo dự án phần Sinh vật và môi
trường (Sinh học 9)
1. Quy trình dạy học dự án
Trên cơ sở quy trình chung của dạy học theo dự án, tôi xây dựng tiến trình dạy học
theo dự án cho phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9) như sau:
GĐ 1: Xây dựng tình
huống vấn đề, lên kế
hoạch thực hiện
GĐ 2: Thực hiện kế
Giai đoạn 1: GV cùng HS thảo luận tình huống, giao
nhiệm vụ cơ bản mà HS cần phải hoàn thành.
HS thảo luận nhóm để lên kế hoạch thực hiện dự án
bao gồm: thời gian làm việc, xác định địa điểm thực
hiện, phân công lao động trong nhóm. GV kiểm tra
tính khả thi của kế hoạch để sự có định hướng kịp
thời.
Giai đoạn 2: HS làm việc cá nhân và nhóm như kế
hoạch đã vạch ra, thiết kế sản phẩm, chuẩn bị cho
buổi thuyết trình. GV theo dõi tiến độ thực hiện dự
án và cố vấn khi được yêu cầu.
Giai đoạn 3: HS thuyết trình sản phẩm của dự án
trước tập thể lớp, GV trong vai khách mời.
Giai đoạn 4: HS tham gia đánh giá dự án: mỗi HS tự
đánh giá mức độ làm việc, nhóm đánh giá sự hợp tác
của cá nhân. Dựa vào kết quả đó, GV đánh giá quá
trình thực hiện và kết quả dự án của từng nhóm và
mỗi học sinh.
2. Kỹ thuật đánh giá kết quả học tập theo dự án
- Cho HS tự kiểm tra, đánh giá dựa vào tiêu chí đánh giá: mỗi nhóm sẽ tự đánh
giá điểm của các thành viên dựa vào mức độ hoạt động của từng thành viên. Các
thành viên trong nhóm tự đánh giá kết quả làm việc của nhóm mình. Sau đó các nhóm
tự đánh giá kết quả làm việc của nhau rồi GV mới đánh giá, nhận xét kết quả làm việc
của các nhóm
- GV đánh giá kết quả thực hiện dự án dựa vào sản phẩm của mỗi nhóm và cách trình
bày của mỗi nhóm trong buổi thảo luận.
- Sau đó GV cho điểm của nhóm, và dựa vào sự đánh giá điểm của nhóm thì sẽ cho
điểm từng em.
- Kết thúc hoạt động, GV nên dành thời gian kết luận lại vấn đề, đánh giá, rút kinh
nghiệm về hiệu quả hoạt động của từng nhóm. GV cần đóng vai trò vừa là người thầy
vừa là trọng tài, người hướng dẫn cho các nhóm trong quá trình hoạt động.
II. Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9)
1. Tên dự án
Trên cơ sở phân tích cấu trúc, mục tiêu, nội dung chương trình Sinh học 9, phần Sinh
vật và môi trường và quy trình chung của dạy học theo dự án, vì thời gian có hạn nên
chúng tôi mới chỉ vận dụng hình thức dạy học theo dự án vào các hoạt động ngoại
khóa (tiết thực hành).
Vận dụng dạy học theo dự án trong các hoạt động ngoại khóa sẽ cho phép triển khai
được những dự án học tập có quy mô vượt không gian thời gian rộng lớn.
Trong phần Sinh vật và môi trường có 2 bài thực hành. Dựa vào đặc điểm tự nhiên
và xã hội của địa phương, tôi đã tiến hành áp dụng dự án là: “CHÚNG TA ĐANG
SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?'' để tìm hiểu về sự ô nhiễm các
loại môi trường Đất, Nước, Không khí ở địa phương.Nhằm mục đích vừa cho học
sinh thực hiện tốt bài thực hành, vừa để học sinh tiếp cận với thực tiễn địa phương,
vừa nâng cao ý thức bảo tồn gìn giữ các giá trị thiên nhiên.
2.Thời gian thực hiện dự án
Stt
Giai đoạn
1
Tổ chức tình huống vấn đề, lập kế hoạch
2
Thực hiện kế hoạch
3
Giới thiệu sản phẩm
Đánh giá
Địa điểm
Thời gian
Ngoài lớp
2 tuần
Trên lớp
2 tiết
3. Các giai đoạn của dự án
3.1. Giai đoạn 1: Xây dựng tình huống vấn đề, lên kế hoạch thực hiện
Học sinh đóng vai các nhân viên của sở Tài nguyên – Môi trường tìm hiểu tình
hình ô nhiễm môi trường ở xã Tản Lĩnh
* GV phân nhóm: mỗi tổ 13 HS
a. Ô nhiễm môi trường đất ( tổ 1)
b. Ô nhiễm môi trường nước ( tổ 2)
c. Ô nhiễm môi trường không khí (tổ 3)
* Lựa chọn địa điểm khảo sát: chợ , bãi rác Xuân Sơn, các quán nhậu, ruộng, nhà
máy,nhà xưởng (xưởng gỗ, xưởng giết mổ gia súc, gia cầm....)…
* Một số câu hỏi gợi ý :
1. Tìm hiểu tính chất vật lý và Hóa học của các môi trường Đất, Nước, Không khí?
Em hãy cho biết môi trường đó có vai trò gì đối với cuộc sống của con người?
2. Thực trạng ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) ở địa phương,
3. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường:
Các
tác Mức độ ô nhiễm
Nguyên
Đề xuất biện
nhân gây ô Rất ô Ô
nhiễm
nhiễm nhiễm
Ít
ô nhân gây ô
pháp khắc phục
nhiễm nhiễm
4. Hậu quả của việc ô nhiễm môi trường
5. Điều tra tác động của con người tới môi trường và hoàn thành bảng sau:
Đặc điểm của môi
trường hiện tại
Xu hướng biến đổi của Đề xuất các biện
môi trường trong thời pháp khắc phục,
gian tới
bảo vệ
6. Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
3.2.Giai đoạn 2: Thực hiện dự án
- Khảo sát thực tế, thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau (sách vở, báo
chí, internet..) và phỏng vấn người dân về hiện trạng của môi trường, nguyên nhân,
hậu quả, biện pháp khắc phục.
- Xử lí thông tin và viết bài dưới dạng tham luận, để trình bày nội dung trong buổi học
(một bài powerpoint hoặc word ).
- Các nhóm thực hiện dự án trong khoảng 9 ngày. Sau đó giáo viên kiểm tra tiến độ
thực hiện của các nhóm .
+ Nhóm 1 gặp vướng mắc khi điều tra và lấy tư liệu hình ảnh tại khu xử lí bãi rác
Xuân Sơn. GV và nhà trường đã phải liên hệ với ban quản lí để HS hoàn thành dự án.
3.3. Giai đoạn 3 : Giới thiệu sản phẩm
- Tiết 1: Đại diện 3 tổ lên thuyết trình sản phẩm của nhóm mình.
- Tiết 2: + Các tổ đưa ra ý kiến bổ sung cho các tổ khác
+ GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của
từng nhóm
3.4. Giai đoạn 4: Đánh giá dự án
- Tổ chức cho HS tự đánh giá mức độ làm việc của các thành viên trong nhóm, theo
các tiêu chí và các nhóm đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của từng nhóm .
Họ và tên
Mức độ hoạt động
Không
tham
Rất
tích
Tích cực Ít tích cực gia
cực (9-10
(7-8 điểm) (5-6 điểm)
điểm)
1. Trần Văn
A
...
- GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng
nhóm, dựa vào bảng trên sẽ cho điểm từng cá nhân.
4. Kế hoạch bài dạy sử dụng hình thức dạy học theo dự án - tích hợp giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường
Dự án
Tiêu đề Tiết 59, 60: Bài 56 – 57 : Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường ở
bài dạy:
địa phương
Tiêu đề
CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?
dự án:
Mô tả Học sinh đóng vai các nhân viên của sở Tài nguyên – Môi trường tìm hiểu
dự án: tình hình ô nhiễm môi trường ở xã Tản Lĩnh
1. GV phân nhóm: ( giai đoạn 1 của dự án )
- Lựa chọn địa điểm khảo sát: chợ , bãi rác Xuân Sơn, các quán nhậu, ruộng,
nhà máy , nhà xưởng (xưởng gỗ, xưởng giết mổ gia súc, gia cầm....)…
2. Thực hiện dự án: (giai đoạn 2 của dự án )
3. Giới thiệu sản phẩm: ( giai đoạn 3 của dự án)
4. Đánh giá dự án: ( giai đoạn 3 của dự án)
SẢN PHẨM CẦN ĐẠT:
1. Nội dung:
+ Bài tham luận về ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí (nguyên nhân
gây ô nhiễm, đánh giá mức độ ô nhiễm, cách khắc phục, liên hệ với bản thân
có thể làm được gì để làm giảm và hạn chế sự ô nhiễm đó ?)
+ Thu thập các hình ảnh ô nhiễm các loại môi trường ở địa phương.
+ Phỏng vấn người dân tại các khu vực bị ô nhiễm (khu vực quanh bãi rác
Xuân Sơn, nhà máy Sản xuất sữa Quốc tế , ao hồ bị nhiễm bẩn, chợ, các
xưởng sản xuất, nhà máy, các trang trại chăn nuôi...)
+ Bài thuyết trình trên Powerpoint và word
2. Hình thức:
- Powerpoint hoặc phim trên phần mềm Movie maker/ Proshow gold....
- Mỗi tổ có 1 bài tham luận
I. MỤC TIÊU BÀI DẠY
1. Kiến thức:
Sau khi thực hiện xong dự án, HS biết:
- Chỉ ra được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở địa phương và từ đó đề xuất
được các biện pháp khắc phục.
- Vận dụng các kiến thức về Địa lý, Hóa học , Vật lí để tìm hiểu được đặc điểm của
từng loại môi trường (đất, nước, không khí...) từ đó có các biện pháp bảo vệ hợp lý.
- Nâng cao nhận thức của HS đối với công tác phòng chống ô nhiễm môi trường.
- Qua bài học này HS thêm yêu thiên nhiên và biết bảo vệ môi trường sống.
2. Năng lực
a. Năng lực chung:
- Tự học: Tìm kiếm thu nhận thông tin liên quan đến ô nhiễm môi trường từ các
nguồn khác nhau. Đánh giá và lựa chọn thông tin cần thiết diễn đạt và sử dụng thông
tin.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Liên hệ và vận dụng giải thích một số vấn đề liên
quan đến ô nhiễm môi trường trong thực tế địa phương. Đề xuất được các biện pháp
bảo vệ môi trường
- Hợp tác: Phân công nhiệm vụ, trao đổi thông tin cùng giải quyết các nhiệm vụ học
tập, hình thành kĩ năng làm việc nhóm.
b. Năng lực riêng:
- Năng lực ngôn ngữ: Diễn đạt, bày tỏ chính kiến trước hiện tượng thực tế cần
được giải quyết.
- Năng lực khoa học: Tìm kiếm thu nhận thông tin liên quan đến ô nhiễm môi
trường từ các nguồn khác nhau. Đánh giá và lựa chọn thông tin cần thiết diễn đạt và
sử dụng thông tin.
- Năng lực tin học: Tìm hiểu thông tin trên internet về tình hình ô nhiễm môi
trường và các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Năng lực thẩm mỹ: Thiết kế bài thuyết trình hay trình bày poster, thiết kế mô
hình minh họa cho biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.
3. Phẩm chất
- Trách nhiệm: Có ý thức giữ gìn môi trường sống, bảo vệ môi trường, yêu
thiên nhiên yêu đất nước.
- Nhân ái: Giúp đỡ, chia sẻ với đồng bào bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường,
thiên tai.
- Chăm chỉ: Tích cực thực hiện nhiệm vụ học tập
- Trung thực: Báo cáo chính xác kết quả thu thực từ dự án tìm hiểu thức tế về ô
nhiễm môi trường.
=>Từ đó, bản thân các em phải có những hành động thiết thực (trồng cây xanh, bỏ rác
đúng nơi quy định, hạn chế dùng bao nilon, tiết kiệm điện, nước, tài nguyên thiên
nhiên…).
- Qua bài học này HS thêm yêu thiên nhiên và biết bảo vệ trường sống.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Máy chiếu
- Kế hoạch dự án:
2. Chuẩn bị của học sinh
- Sản phẩm của dự án: Bài thuyết trình trên Power Point, Word , vi deo.... của
học sinh.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DỰ ÁN
- Tìm thông tin và chọn lọc thông tin.
Các kỹ năng học sinh - Làm việc theo nhóm.
cần có trước khi bắt - Sử dụng Internet để tìm thông tin, sử dụng được Word,
đầu dự án
Power point, 1 số phần mềm làm phim như: Movie maker,
Proshow…
Kế hoạch xây dựng GV triển khai tiêu chí đánh giá khi triển khai dự án.
mẫu đánh giá sản Sản phẩm được đánh giá theo các tiêu chí:
phẩm học sinh
- Nội dung (theo tiêu chí của sản phẩm cần đạt )
- Trình bày (đẹp, hợp lí )
- Thuyết trình (hay, rõ ràng ).
Các nhóm thuyết trình và trình bày sản phẩm.
Sau buổi thảo luận, HS cùng GV đánh giá, bình chọn sản phẩm
theo các tiêu chí đã triển khai.
- Sản phẩm được đăng tải lên trang web của trường, lớp hoặc
các trang xã hội như Facebook, Blog, You tube... để các bạn
cũng tham khảo và học hỏi.
III. Kết quả thực hiện đề tài
Ý nghĩa đối với thực tiễn dạy học: .
- Qua thực tế, sau khi đã thực hiện dự án của mình, tôi đã nhận thấy HS luôn
luôn là đối tượng thích tìm hiểu và khám phá. Các em đã tham gia các đề tài mà GV
đã giao một cách rất tích cực, kết quả rất khả quan.
- Bên canh đó, người GV cần phải có những định hướng tốt để HS có thể hoàn
thành được công việc mà GV đã giao, chú ý lắng nghe những thắc mắc của các em để
giải đáp kịp thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để các em hoàn thành đúng tiến độ.
Tóm lại, GV không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở
thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho
các em trên con đường thực hiện dự án.
- Ý nghĩa đối với thực tiễn đời sống xã hội:
- Giáo dục cho các em HS – những chủ nhân tương lai của đất nước ý thức bảo
vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống và tương lai của các em.
- Hướng cho HS những công việc cụ thể và đơn giản nhất để bảo vệ môi trường
và góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
+ Không tiếp tay cho hành vi tổn hại đến môi trường ví dụ như: Bẻ cây, chặt
phá rừng, vứt rác bừa bãi ra môi trường xung quanh, buôn bán động vật hoang dã …
- Giúp HS có thái độ thân thiện, gắn bó với môi trường nhiều hơn từ đó có
những hành động thiết thực nhất để bảo vệ môi trường.
Sau khi kết thúc dự án, chúng tôi đã tiến hành điều tra nhóm thực nghiệm lớp
9G dạy học theo dự án và lớp đối chứng 9D dạy theo phương pháp truyền thống –
thuyết trình ( thu được từ phiếu trưng cầu kiến của HS).
Tổng số
HS
Mức độ hứng thú với môn học
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích
80
25
35
17
3
Tỉ lệ %
31,25
43,75
21,25
3,75
Qua dự án trên, HS có những hành động thiết thực bảo vệ môi trường
+ Vứt rác đúng nơi quy định, không xả rác bừa bãi
+ Dọn dẹp vệ sinh lớp học, khuôn viên nhà ở
+ Hạn chế sử dụng túi nilon
+ Tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt
+ Tích cực tham gia trồng cây xanh
+ Hăng hái tham gia các phong trào bảo vệ môi trường
PHẦN BA: KẾT LUẬN
I. Những điều rút ra từ đề tài
- Qua kết quả thực nghiệm dạy học theo dự án, cho thấy: dạy học theo dự án là
phương pháp rất có hiệu quả trong việc phát huy tính tích cực, chủ động cho HS. Tuy
nhiên, các GV vận dụng hình thức dạy học này vẫn chưa phổ biến. Nguyên nhân là do
việc cập nhật phương pháp dạy học theo dự án của người dạy và một số khó khăn khi
triển khai.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm về dạy học theo hình thức dự án cho thấy học sinh
học tập hứng thú, tích cực, kết quả thu nhận kiến thức tốt hơn nhiều so với phương
pháp truyền thống lâu nay áp dụng. Bước đầu rèn luyện được một số năng lực học tập
tích cực cho học sinh như: chủ động, sáng tạo, chia sẻ và tinh thần tập thể, kỹ năng
hoạt động nhóm...
II. Kiến nghị
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:
1. Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo:
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề, các buổi tập huấn trao đổi, thảo luận để giáo
viên chúng tôi có nhiều cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm, nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ của bản thân.
2. Đối với nhà trường:
- Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học, triển
khai hình thức dạy học theo dự án cho đông đảo đội ngũ giáo viên trong các nhà
trường.
- Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở phần sinh vật và môi trường.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tổ chức dạy học theo dự án
phù hợp với nội dung của nhiều bài và nhiều lớp học khác. Do đó cần có hướng
nghiên cứu mở rộng thêm ở các nội dung và các cấp khác đặc biệt là cấp THCS.
- Để tổ chức một tiết học theo dự án thành công thì công tác chuẩn bị của GV
cũng rất quan trọng. Bên cạnh đó việc đầu tư các trang thiết bị phòng học đầy đủ, đặc
biệt thiết kế bàn ghế sao cho HS dễ dàng di chuyển trong quá trình học tập.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ bản thân tôi rút ra qua thực tế giảng dạy. Rất
mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của các đồng nghiệp, đặc biệt là hội đồng thẩm
định để đề tài này được hoàn thiện hơn và có tính ứng dụng cao trong giảng dạy ở
bậc THCS.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tôi xin cam đoan: Đề tài này do tôi nghiên cứu và thực hiện tại trường THCS nơi
tôi công tác. Đề tài không sao chép của bất cứ tổ chức hay cá nhân nào.
Tản Lĩnh, ngày 20 tháng 04 năm 2022
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Thu Hương
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Vũ Mai Anh, Hoàng Thanh Hồng, Ngô Văn Hưng, Phan Thị Lạc, Trần Thị Nhung
(2008), Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Sinh học trung học phổ thông,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1996), Lí luận dạy học Sinh học, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
3. Lưu Đức Hải (1999), Cơ sở khoa học môi trường, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
4. Trần Bá Hoành (1994), “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, Tạp chí Giáo dục,
(4), tr. 16-17.
5. Ngô Văn Hưng (2005), Dạy học Sinh học 9, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Trần Văn Kiên, Phan Nguyên Hồng (1990), Sinh Thái học đại cương, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
7. Vũ Trung Tạng (2006), Bài tập sinh thái học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Lê Đình Trung, Trịnh Nguyên Giao, Ngô Văn Hưng (2009), Tự học, tự kiểm tra
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Sinh học 9, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
Websites:
9. http://ldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/5391/vi-VN/Default.aspx
10. http://edutechwiki.unige.ch/en/Project-based_learning
11. http://educate.intel.com/vn/ProjectDesign/Design/Project_
SẢN PHẨM CỦA HỌC SINH
DỰ ÁN : CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO??
1.
Bài tham luận về ô nhiễm môi trường đất
BÀI THAM LUẬN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
TẠI KHU VỰC XÃ TẢN LĨNH
Ngày nay trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Ở các quốc
gia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên nên việc
xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa như Singapo, Nhật Bản . Người
dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh - sạch - đẹp. Đáng
buồn thay nước ta có một hiện tượng phổ biến là vứt rác ra đường hoặc những nơi
công cộng, không giữ gìn vệ sinh đường phố. Việc làm đã gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường nói chung cũng như
vấn đề ô nhiễm môi trường đất nói riêng.
Hiện nay ô nhiễm môi trường đất đang là vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội ảnh
hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng. "Đất chật người đông" hệ thống cống rãnh và
khâu xử lí rác thải không đảm bảo vệ sinh nên nguy cơ xảy ra dịch bệnh và ô nhiễm
môi trường, nhất là đất là rất lớn. Môi trường đất ở Tản Lĩnh như chúng ta đã biết
chưa được các cơ quan quan tâm lắm nên ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bởi
vậy, bài tham luận hôm nay sẽ giúp chúng ta phần nào nhận thức và khắc phục được
về vấn đề ô nhiễm môi trường đất ở địa phương ta.
Đất là một tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất
đóng vai trò quan trọng: là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để sinh vật
sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở và các công trình
khác. Tuy nhiên con người lại có những tác động xấu đến môi trường đất như xả rác,
sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ... Ngoài ra, con người còn thải những chất thải từ công
nghiệp và sinh hoạt ra môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề hơn.
Tình hình điều tra cụ thể:
Sau đây là 1 số hình ảnh mà chúng em đã thu thập được sau 1 cuộc khám phá tình
hình ô nhiễm môi trường đất ở địa phương mà cụ thể ở đây là khu vực .
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
Qua những hình ảnh trên, chắc rằng ai cũng nhận ra vấn đề cấp thiết cần được
giải quyết ngay bây giờ chính là đề ra những biện pháp thật đúng đắn để nhanh chóng
khắc phục những hậu quả nghiêm trọng mà do một số người dân chưa thật ý thức về
những hành động hủy hoại môi trường mà họ đã gây ra như:
- Xả rác bừa bãi, khạc nhổ lung tung,...
- Con người sử dụng phân bón và hóa chất cho thực vật.
- Chất độc hóa học để lại sau chiến tranh vô cùng nguy hại đến cuộc sống của mọi
người, gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong.
- Các chất thải từ các hoạt động công nghiệp cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến môi
trường.
- Các tác động khác từ thiên nhiên gây ra như hiện tượng xói mòn, rửa trôi và sụt lở
đất thường xảy ra vào mùa mưa lũ, làm suy thoái đất và gây nhiều hậu quả xấu đối
với môi trường và ...
I. Lý do chọn đề tài
1. Lí do khách quan
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo,
thực hiện chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục
đang tích cực từng bước đổi mới nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp dạy
học, đổi mới công tác dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Công
tác giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ rất quan trọng, góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, nhằm hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Ngày nay, trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học có nhiều giáo viên đã
chuyển từ sử dụng phấn bảng truyền thống sang dùng Powerpoint và các trang web
như những phương tiện dạy học. Tuy nhiên, điều này cũng không thay đổi được bản
chất của quá trình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm”. Một lớp học với các phương
pháp dạy học lấy giáo viên làm trung tâm thường có đặc điểm: trong quá trình dạy
học giáo viên nói nhiều hơn học sinh; giảng giải chủ yếu bằng cách thuyết trình; sách
giáo khoa là tài liệu chính; bàn ghế được sắp xếp thành các dãy đối diện với bảng và
giáo viên; học sinh không được tự do di chuyển chỗ ngồi.
Trong khi đó, dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhấn mạnh tới vai trò chủ đạo
của người học, “được tìm hiểu và thể nghiệm”. Đặc điểm của một lớp học với dạy học
lấy học sinh làm trung tâm có đặc điểm: phần thảo luận của học sinh tương đương
thậm chí nhiều hơn giảng giải của giáo viên; các hoạt động học tập được cá nhân tiến
hành hoặc thực hiện trong các nhóm; học sinh có thể sử dụng nhiều tài liệu từ các
nguồn khác nhau như tạp chí, internet...các em có thể tự lựa chọn kiến thức phù hợp
với nội dung bài học; tự quyết định hướng đi phù hợp với nội dung bài học.
2. Lí do chủ quan
Một trong những đổi mới về phương pháp dạy học là đổi mới hoạt động dạy học
của giáo viên, đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, đổi mới đánh giá kết quả học
tập của học sinh, đổi mới phương tiện dạy học theo hướng tích cực. Dạy học theo dự
án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức
hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới
thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá
trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm
tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Kết quả dự án là những sản
phẩm có thể trình bày, giới thiệu. Vì vậy, song song với đổi mới nội dung, mục tiêu,
phương pháp dạy học để tích cực hóa hoạt động của học sinh thì đổi mới hình thức tổ
chức dạy học cũng rất cần thiết. Việc tổ chức học sinh học tập theo dự án không chỉ
giúp cho học sinh có được kiến thức bằng quá trình tự học, tự kiểm tra, đánh giá mà
còn phát triển cho học sinh các kĩ năng xã hội như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác,
kĩ năng thuyết trình trước đám đông…đảm bảo yêu cầu của việc dạy học lấy học sinh
làm trung tâm. Xuất phát từ những lý do trên và ưu điểm của dạy học dự án, tôi lựa
chọn đề tài: “Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh vật và môi trường, chương
trình Sinh học 9” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho HS.
Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp để tôi ngày càng được hoàn
thiện hơn trong nghề nghiệp.
II. Mục đích và đóng góp của đề tài
- Sử dụng hình thức dạy học theo dự án để dạy học phần kiến thức “Sinh vật và
môi trường” sinh học 9, THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học.
- Thiết kế các hoạt động để tổ chức dạy học theo dự án phần kiến thức “Sinh vật và
môi trường” sinh học 9 THCS.
- Một số bài giảng mẫu phần “Sinh vật và môi trường” sinh học 9 THCS sử dụng hình
thức dạy học theo dự án.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án.
- Xác định quy trình tổ chức của việc dạy học theo dự án.
- Xác định các kiến thức phần “Sinh vật và môi trường” sinh học 9 để thiết kế các
hoạt động dạy học theo dự án.
- Thực nghiệm sư phạm.
IV. Phạm vi nghiên cứu
1. Không gian
Tổ chức dạy học theo nhóm phần kiến thức phần “Sinh vật và môi trường” thuộc
sinh học 9 bậc THCS với mục đích hình thành tri thức mới tại Trường THCS Tản
Lĩnh
2. Thời gian
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã
thực hiện trong năm học 2020-2021 và 2021-2022
PHẦN HAI: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
I. Cơ sở lí luận của đề tài
1. Đặc điểm của dạy học theo dự án
Mục tiêu của dạy học theo dự án: Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội
dung học với cuộc sống thực; Tạo ra một sản phẩm; Thực hành nghiên cứu, Giải
quyết một vấn đề; Rèn luyện, phát triển nhiều kĩ năng: kĩ năng phát hiện và giải quyết
vấn đề, kĩ năng tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm, kĩ năng sử dụng
công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm.
Mang tính thực tiễn: Các dự án học tập có nội dung gắn liền với thực tiễn đời sống,
xã hội, có ý nghĩa thực tiễn, kết hợp giữa lý thuyết với thực hành và mang nội dung
tích hợp.
Tạo hứng thú người học: người học được tham gia chọn đề tài, nội dung phù hợp
với khả năng và hứng thú cá nhân, được tham gia thực hiện nhiệm vụ cũng như tạo ra
các sản phẩm, do đó thúc đẩy năng lực của mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiện dự
án.
Tính tích hợp: Nội dung các dự án học tập có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực
hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
Trong quá trình thực hiện dự án, người học phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tính tự lực cao của người học : Trong dạy học theo dự án, người dạy chủ yếu đóng
vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Vì vậy HS chính là chủ thể của dự án, bản thân
các em phải tích cực, nỗ lực để hoàn thiện dự án.
Phát huy khả năng làm việc theo nhóm: Các dự án thường được thực hiện theo
nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành
viên trong nhóm. Giữa các nhóm khác nhau cũng có sự thi đua lành mạnh, nhằm làm
cho mỗi nhóm đều cố gắng hoàn thành tốt sản phẩm của mình.
* Để một dự án có thể hoàn thành tốt cần:
- Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học.
- Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập phù hợp với nội dung bài học và liên hệ
tốt với các vấn đề của xã hội, đặc biệt là các vấn đề được nhiều người quan tâm.
- Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình.
- Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên.
- Dự án có liên hệ với thực tế, có ý nghĩa đối với xã hội.
- Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực
hiện.
- Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ và thúc đẩy việc hoàn thành dự án.
* Sản phẩm của dự án:
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo… Thông
thường, sản phẩm học sinh phải hoàn thành gồm:
- Bài thuyết trình trên powerpoint.
- Bài thuyết trình trên powerpoint hoặc word.
- Các đoạn video, hình ảnh mà học sinh tự làm dựa trên kết quả điều tra, chụp ảnh…
- Ngoài ra, các em có thể thiết kế các poster về nội dung dự án, các trang web…
2. Ý nghĩa của dự án
- Dạy học dự án (DHDA) có tính liên môn, có nghĩa là nhiều môn học liên kết
với nhau. Một dự án dù là của môn nào, cũng phải đòi hỏi kiến thức của nhiều môn
học để giải quyết. Do vậy, các em cần phải biêt tổng hợp kiến thức của các môn Địa
lý, Hóa học, Vật lý.. thì mới có thể hoàn thành được dự án.
* Đối với HS:
- Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu và vận dụng lý
thuyết vào trong hoạt động thực hành. Từ đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết về
mặt lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn.
- Rèn luyện kỹ năng: vận dụng kiến thức liên môn (Địa lý, Vật lý, Hóa học) để
giải thích mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức; rèn luyên kỹ năng hợp tác theo nhóm.
- Ngoài ra, các em còn được nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin
phục vụ cho học tập thông qua việc tự tìm tài liệu trên Internet , tự làm bài trên
Powerpoint, làm các đoạn film ngắn, có ý nghĩa trên các phần mềm làm film.
- Sau khi cho các em tự tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ở địa
phương, cho các em đi khảo sát thực tế và có một vài buổi ngoại khóa nhỏ thì các em
đã trở nên hứng thú, sôi nổi, tích cực học tập hơn rất nhiều.
* Đối với GV:
- Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung
tâm, trong DHDA, GV là chỉ là người hướng dẫn và tư vấn, giúp đỡ, khuyến khích
tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. chứ không phải là
“cầm tay chỉ việc” cho HS của mình.
- Vì thế, giáo viên cần phải có sự nhạy bén với các vấn đề nhạy cảm của xã hội,
liên kết các vấn đề đó, hình thành nên ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung
học, tạo vai trò cho HS trong dự án, làm cho vai trò của HS gắn với nội dung cần học
(thiết kế các bài tập cho học sinh)…
- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp dạy học,
đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, tăng cường ứng dụng hiệu
quả CNTT trong dạy học
3. Phạm vi áp dụng đề tài
Dạy học theo dự án: Là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm, khuyến
khích học sinh tìm tòi, sử dụng những kiến thức mà các em đã được học trong nhiều
môn học khác nhau, liên kết những tri thức đó để tạo ra sản phẩm của chính mình.
Với hình thức dạy học này, GV có thể áp dụng vào dạy bài nội dung mới, những
bài ôn tập cuối chương, các tiết thực hành, hoặc GV có thể đưa ra một đề tài liên quan
với nội dung bài học nhưng có tính liên hệ thực tế.
Hình thức dạy học theo dự án không phải là hình thức dạy học mới mẻ trên thế
giới, nhưng đối với Việt Nam, hình thức này mới chỉ được áp dụng trong những năm
gần đây, đặc biệt là đối với HS bậc trung học phổ thông và trung học cơ sở. Chính vì
thế, việc vận dụng nó như thế nào vẫn còn là vấn đề phân vân của các GV.
Trong quá trình giảng dạy, chính bản thân tôi cũng không thể phủ nhận các
phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình, vấn đáp..) vì nhờ những phương
pháp này mà các em có được kiến thức của các môn học. Vì thế, vận dụng linh hoạt
phương pháp cũ và phương pháp mới để phù hợp với nội dung kiến thức bài học là
điều cần thiết.
II. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1. Thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học Sinh học
ở trường trung học cơ sở Tản Lĩnh
- Không có phương pháp dạy học nào được đánh giá là hoàn toàn tích cực hay không
tích cực; nghĩa là không có phương pháp nào là tối ưu trong dạy học.
- Hình thức dạy học theo dự án trong dạy học phần Sinh vật và môi trường (Sinh học
9) ở các trường trung học cơ sở hầu hết vẫn chưa được tiến hành, và nếu có thì vẫn
chưa đúng hình thức.
- Có những giờ học được thực hiện bằng phương pháp dạy học theo dự án nhưng ở
những hình thức khác nhau như bài tập nhóm, bài sưu tầm, bài thí nghiệm và chưa
tuân
theo
quy
trình
đầy
đủ
của
dạy
học
dự
án.
- Đối với HS: Các em vẫn còn rất bỡ ngỡ với hình thức học khá mới mẻ này. Tuy
nhiên, khi được giao nhiệm vụ để bắt tay vào làm dự án các em tỏ ra rất phấn khởi và
thực hiện một cách tích cực, hiệu quả. Vì thế, nếu vận dụng tốt hình thức dạy học theo
dự án vào dạy học phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9) chắc chắn sẽ mang lại
hiệu quả cao.
2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài
Mức độ hứng thú của học sinh lớp 9D, 9G trường THCS Tản Lĩnh trong năm học
2020 - 2021 như sau:
Tổng số
Mức độ hứng thú với môn học
HS
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích
80
9
17
36
18
Tỉ lệ %
11,25
21,25
45
22,5
Qua kết quả trên chúng ta thấy được tỉ lệ học sinh có hứng thú còn thấp, tỉ lệ học
sinh bình thường và không thích còn ở mức cao.
CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I. Quy trình, kĩ thuật đánh giá kết quả học tập theo dự án phần Sinh vật và môi
trường (Sinh học 9)
1. Quy trình dạy học dự án
Trên cơ sở quy trình chung của dạy học theo dự án, tôi xây dựng tiến trình dạy học
theo dự án cho phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9) như sau:
GĐ 1: Xây dựng tình
huống vấn đề, lên kế
hoạch thực hiện
GĐ 2: Thực hiện kế
Giai đoạn 1: GV cùng HS thảo luận tình huống, giao
nhiệm vụ cơ bản mà HS cần phải hoàn thành.
HS thảo luận nhóm để lên kế hoạch thực hiện dự án
bao gồm: thời gian làm việc, xác định địa điểm thực
hiện, phân công lao động trong nhóm. GV kiểm tra
tính khả thi của kế hoạch để sự có định hướng kịp
thời.
Giai đoạn 2: HS làm việc cá nhân và nhóm như kế
hoạch đã vạch ra, thiết kế sản phẩm, chuẩn bị cho
buổi thuyết trình. GV theo dõi tiến độ thực hiện dự
án và cố vấn khi được yêu cầu.
Giai đoạn 3: HS thuyết trình sản phẩm của dự án
trước tập thể lớp, GV trong vai khách mời.
Giai đoạn 4: HS tham gia đánh giá dự án: mỗi HS tự
đánh giá mức độ làm việc, nhóm đánh giá sự hợp tác
của cá nhân. Dựa vào kết quả đó, GV đánh giá quá
trình thực hiện và kết quả dự án của từng nhóm và
mỗi học sinh.
2. Kỹ thuật đánh giá kết quả học tập theo dự án
- Cho HS tự kiểm tra, đánh giá dựa vào tiêu chí đánh giá: mỗi nhóm sẽ tự đánh
giá điểm của các thành viên dựa vào mức độ hoạt động của từng thành viên. Các
thành viên trong nhóm tự đánh giá kết quả làm việc của nhóm mình. Sau đó các nhóm
tự đánh giá kết quả làm việc của nhau rồi GV mới đánh giá, nhận xét kết quả làm việc
của các nhóm
- GV đánh giá kết quả thực hiện dự án dựa vào sản phẩm của mỗi nhóm và cách trình
bày của mỗi nhóm trong buổi thảo luận.
- Sau đó GV cho điểm của nhóm, và dựa vào sự đánh giá điểm của nhóm thì sẽ cho
điểm từng em.
- Kết thúc hoạt động, GV nên dành thời gian kết luận lại vấn đề, đánh giá, rút kinh
nghiệm về hiệu quả hoạt động của từng nhóm. GV cần đóng vai trò vừa là người thầy
vừa là trọng tài, người hướng dẫn cho các nhóm trong quá trình hoạt động.
II. Tổ chức dạy học theo dự án phần Sinh vật và môi trường (Sinh học 9)
1. Tên dự án
Trên cơ sở phân tích cấu trúc, mục tiêu, nội dung chương trình Sinh học 9, phần Sinh
vật và môi trường và quy trình chung của dạy học theo dự án, vì thời gian có hạn nên
chúng tôi mới chỉ vận dụng hình thức dạy học theo dự án vào các hoạt động ngoại
khóa (tiết thực hành).
Vận dụng dạy học theo dự án trong các hoạt động ngoại khóa sẽ cho phép triển khai
được những dự án học tập có quy mô vượt không gian thời gian rộng lớn.
Trong phần Sinh vật và môi trường có 2 bài thực hành. Dựa vào đặc điểm tự nhiên
và xã hội của địa phương, tôi đã tiến hành áp dụng dự án là: “CHÚNG TA ĐANG
SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?'' để tìm hiểu về sự ô nhiễm các
loại môi trường Đất, Nước, Không khí ở địa phương.Nhằm mục đích vừa cho học
sinh thực hiện tốt bài thực hành, vừa để học sinh tiếp cận với thực tiễn địa phương,
vừa nâng cao ý thức bảo tồn gìn giữ các giá trị thiên nhiên.
2.Thời gian thực hiện dự án
Stt
Giai đoạn
1
Tổ chức tình huống vấn đề, lập kế hoạch
2
Thực hiện kế hoạch
3
Giới thiệu sản phẩm
Đánh giá
Địa điểm
Thời gian
Ngoài lớp
2 tuần
Trên lớp
2 tiết
3. Các giai đoạn của dự án
3.1. Giai đoạn 1: Xây dựng tình huống vấn đề, lên kế hoạch thực hiện
Học sinh đóng vai các nhân viên của sở Tài nguyên – Môi trường tìm hiểu tình
hình ô nhiễm môi trường ở xã Tản Lĩnh
* GV phân nhóm: mỗi tổ 13 HS
a. Ô nhiễm môi trường đất ( tổ 1)
b. Ô nhiễm môi trường nước ( tổ 2)
c. Ô nhiễm môi trường không khí (tổ 3)
* Lựa chọn địa điểm khảo sát: chợ , bãi rác Xuân Sơn, các quán nhậu, ruộng, nhà
máy,nhà xưởng (xưởng gỗ, xưởng giết mổ gia súc, gia cầm....)…
* Một số câu hỏi gợi ý :
1. Tìm hiểu tính chất vật lý và Hóa học của các môi trường Đất, Nước, Không khí?
Em hãy cho biết môi trường đó có vai trò gì đối với cuộc sống của con người?
2. Thực trạng ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) ở địa phương,
3. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường:
Các
tác Mức độ ô nhiễm
Nguyên
Đề xuất biện
nhân gây ô Rất ô Ô
nhiễm
nhiễm nhiễm
Ít
ô nhân gây ô
pháp khắc phục
nhiễm nhiễm
4. Hậu quả của việc ô nhiễm môi trường
5. Điều tra tác động của con người tới môi trường và hoàn thành bảng sau:
Đặc điểm của môi
trường hiện tại
Xu hướng biến đổi của Đề xuất các biện
môi trường trong thời pháp khắc phục,
gian tới
bảo vệ
6. Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
3.2.Giai đoạn 2: Thực hiện dự án
- Khảo sát thực tế, thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau (sách vở, báo
chí, internet..) và phỏng vấn người dân về hiện trạng của môi trường, nguyên nhân,
hậu quả, biện pháp khắc phục.
- Xử lí thông tin và viết bài dưới dạng tham luận, để trình bày nội dung trong buổi học
(một bài powerpoint hoặc word ).
- Các nhóm thực hiện dự án trong khoảng 9 ngày. Sau đó giáo viên kiểm tra tiến độ
thực hiện của các nhóm .
+ Nhóm 1 gặp vướng mắc khi điều tra và lấy tư liệu hình ảnh tại khu xử lí bãi rác
Xuân Sơn. GV và nhà trường đã phải liên hệ với ban quản lí để HS hoàn thành dự án.
3.3. Giai đoạn 3 : Giới thiệu sản phẩm
- Tiết 1: Đại diện 3 tổ lên thuyết trình sản phẩm của nhóm mình.
- Tiết 2: + Các tổ đưa ra ý kiến bổ sung cho các tổ khác
+ GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của
từng nhóm
3.4. Giai đoạn 4: Đánh giá dự án
- Tổ chức cho HS tự đánh giá mức độ làm việc của các thành viên trong nhóm, theo
các tiêu chí và các nhóm đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của từng nhóm .
Họ và tên
Mức độ hoạt động
Không
tham
Rất
tích
Tích cực Ít tích cực gia
cực (9-10
(7-8 điểm) (5-6 điểm)
điểm)
1. Trần Văn
A
...
- GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng
nhóm, dựa vào bảng trên sẽ cho điểm từng cá nhân.
4. Kế hoạch bài dạy sử dụng hình thức dạy học theo dự án - tích hợp giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường
Dự án
Tiêu đề Tiết 59, 60: Bài 56 – 57 : Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường ở
bài dạy:
địa phương
Tiêu đề
CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?
dự án:
Mô tả Học sinh đóng vai các nhân viên của sở Tài nguyên – Môi trường tìm hiểu
dự án: tình hình ô nhiễm môi trường ở xã Tản Lĩnh
1. GV phân nhóm: ( giai đoạn 1 của dự án )
- Lựa chọn địa điểm khảo sát: chợ , bãi rác Xuân Sơn, các quán nhậu, ruộng,
nhà máy , nhà xưởng (xưởng gỗ, xưởng giết mổ gia súc, gia cầm....)…
2. Thực hiện dự án: (giai đoạn 2 của dự án )
3. Giới thiệu sản phẩm: ( giai đoạn 3 của dự án)
4. Đánh giá dự án: ( giai đoạn 3 của dự án)
SẢN PHẨM CẦN ĐẠT:
1. Nội dung:
+ Bài tham luận về ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí (nguyên nhân
gây ô nhiễm, đánh giá mức độ ô nhiễm, cách khắc phục, liên hệ với bản thân
có thể làm được gì để làm giảm và hạn chế sự ô nhiễm đó ?)
+ Thu thập các hình ảnh ô nhiễm các loại môi trường ở địa phương.
+ Phỏng vấn người dân tại các khu vực bị ô nhiễm (khu vực quanh bãi rác
Xuân Sơn, nhà máy Sản xuất sữa Quốc tế , ao hồ bị nhiễm bẩn, chợ, các
xưởng sản xuất, nhà máy, các trang trại chăn nuôi...)
+ Bài thuyết trình trên Powerpoint và word
2. Hình thức:
- Powerpoint hoặc phim trên phần mềm Movie maker/ Proshow gold....
- Mỗi tổ có 1 bài tham luận
I. MỤC TIÊU BÀI DẠY
1. Kiến thức:
Sau khi thực hiện xong dự án, HS biết:
- Chỉ ra được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở địa phương và từ đó đề xuất
được các biện pháp khắc phục.
- Vận dụng các kiến thức về Địa lý, Hóa học , Vật lí để tìm hiểu được đặc điểm của
từng loại môi trường (đất, nước, không khí...) từ đó có các biện pháp bảo vệ hợp lý.
- Nâng cao nhận thức của HS đối với công tác phòng chống ô nhiễm môi trường.
- Qua bài học này HS thêm yêu thiên nhiên và biết bảo vệ môi trường sống.
2. Năng lực
a. Năng lực chung:
- Tự học: Tìm kiếm thu nhận thông tin liên quan đến ô nhiễm môi trường từ các
nguồn khác nhau. Đánh giá và lựa chọn thông tin cần thiết diễn đạt và sử dụng thông
tin.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Liên hệ và vận dụng giải thích một số vấn đề liên
quan đến ô nhiễm môi trường trong thực tế địa phương. Đề xuất được các biện pháp
bảo vệ môi trường
- Hợp tác: Phân công nhiệm vụ, trao đổi thông tin cùng giải quyết các nhiệm vụ học
tập, hình thành kĩ năng làm việc nhóm.
b. Năng lực riêng:
- Năng lực ngôn ngữ: Diễn đạt, bày tỏ chính kiến trước hiện tượng thực tế cần
được giải quyết.
- Năng lực khoa học: Tìm kiếm thu nhận thông tin liên quan đến ô nhiễm môi
trường từ các nguồn khác nhau. Đánh giá và lựa chọn thông tin cần thiết diễn đạt và
sử dụng thông tin.
- Năng lực tin học: Tìm hiểu thông tin trên internet về tình hình ô nhiễm môi
trường và các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Năng lực thẩm mỹ: Thiết kế bài thuyết trình hay trình bày poster, thiết kế mô
hình minh họa cho biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.
3. Phẩm chất
- Trách nhiệm: Có ý thức giữ gìn môi trường sống, bảo vệ môi trường, yêu
thiên nhiên yêu đất nước.
- Nhân ái: Giúp đỡ, chia sẻ với đồng bào bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường,
thiên tai.
- Chăm chỉ: Tích cực thực hiện nhiệm vụ học tập
- Trung thực: Báo cáo chính xác kết quả thu thực từ dự án tìm hiểu thức tế về ô
nhiễm môi trường.
=>Từ đó, bản thân các em phải có những hành động thiết thực (trồng cây xanh, bỏ rác
đúng nơi quy định, hạn chế dùng bao nilon, tiết kiệm điện, nước, tài nguyên thiên
nhiên…).
- Qua bài học này HS thêm yêu thiên nhiên và biết bảo vệ trường sống.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Máy chiếu
- Kế hoạch dự án:
2. Chuẩn bị của học sinh
- Sản phẩm của dự án: Bài thuyết trình trên Power Point, Word , vi deo.... của
học sinh.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DỰ ÁN
- Tìm thông tin và chọn lọc thông tin.
Các kỹ năng học sinh - Làm việc theo nhóm.
cần có trước khi bắt - Sử dụng Internet để tìm thông tin, sử dụng được Word,
đầu dự án
Power point, 1 số phần mềm làm phim như: Movie maker,
Proshow…
Kế hoạch xây dựng GV triển khai tiêu chí đánh giá khi triển khai dự án.
mẫu đánh giá sản Sản phẩm được đánh giá theo các tiêu chí:
phẩm học sinh
- Nội dung (theo tiêu chí của sản phẩm cần đạt )
- Trình bày (đẹp, hợp lí )
- Thuyết trình (hay, rõ ràng ).
Các nhóm thuyết trình và trình bày sản phẩm.
Sau buổi thảo luận, HS cùng GV đánh giá, bình chọn sản phẩm
theo các tiêu chí đã triển khai.
- Sản phẩm được đăng tải lên trang web của trường, lớp hoặc
các trang xã hội như Facebook, Blog, You tube... để các bạn
cũng tham khảo và học hỏi.
III. Kết quả thực hiện đề tài
Ý nghĩa đối với thực tiễn dạy học: .
- Qua thực tế, sau khi đã thực hiện dự án của mình, tôi đã nhận thấy HS luôn
luôn là đối tượng thích tìm hiểu và khám phá. Các em đã tham gia các đề tài mà GV
đã giao một cách rất tích cực, kết quả rất khả quan.
- Bên canh đó, người GV cần phải có những định hướng tốt để HS có thể hoàn
thành được công việc mà GV đã giao, chú ý lắng nghe những thắc mắc của các em để
giải đáp kịp thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để các em hoàn thành đúng tiến độ.
Tóm lại, GV không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở
thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho
các em trên con đường thực hiện dự án.
- Ý nghĩa đối với thực tiễn đời sống xã hội:
- Giáo dục cho các em HS – những chủ nhân tương lai của đất nước ý thức bảo
vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống và tương lai của các em.
- Hướng cho HS những công việc cụ thể và đơn giản nhất để bảo vệ môi trường
và góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
+ Không tiếp tay cho hành vi tổn hại đến môi trường ví dụ như: Bẻ cây, chặt
phá rừng, vứt rác bừa bãi ra môi trường xung quanh, buôn bán động vật hoang dã …
- Giúp HS có thái độ thân thiện, gắn bó với môi trường nhiều hơn từ đó có
những hành động thiết thực nhất để bảo vệ môi trường.
Sau khi kết thúc dự án, chúng tôi đã tiến hành điều tra nhóm thực nghiệm lớp
9G dạy học theo dự án và lớp đối chứng 9D dạy theo phương pháp truyền thống –
thuyết trình ( thu được từ phiếu trưng cầu kiến của HS).
Tổng số
HS
Mức độ hứng thú với môn học
Rất thích
Thích
Bình thường
Không thích
80
25
35
17
3
Tỉ lệ %
31,25
43,75
21,25
3,75
Qua dự án trên, HS có những hành động thiết thực bảo vệ môi trường
+ Vứt rác đúng nơi quy định, không xả rác bừa bãi
+ Dọn dẹp vệ sinh lớp học, khuôn viên nhà ở
+ Hạn chế sử dụng túi nilon
+ Tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt
+ Tích cực tham gia trồng cây xanh
+ Hăng hái tham gia các phong trào bảo vệ môi trường
PHẦN BA: KẾT LUẬN
I. Những điều rút ra từ đề tài
- Qua kết quả thực nghiệm dạy học theo dự án, cho thấy: dạy học theo dự án là
phương pháp rất có hiệu quả trong việc phát huy tính tích cực, chủ động cho HS. Tuy
nhiên, các GV vận dụng hình thức dạy học này vẫn chưa phổ biến. Nguyên nhân là do
việc cập nhật phương pháp dạy học theo dự án của người dạy và một số khó khăn khi
triển khai.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm về dạy học theo hình thức dự án cho thấy học sinh
học tập hứng thú, tích cực, kết quả thu nhận kiến thức tốt hơn nhiều so với phương
pháp truyền thống lâu nay áp dụng. Bước đầu rèn luyện được một số năng lực học tập
tích cực cho học sinh như: chủ động, sáng tạo, chia sẻ và tinh thần tập thể, kỹ năng
hoạt động nhóm...
II. Kiến nghị
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:
1. Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo:
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề, các buổi tập huấn trao đổi, thảo luận để giáo
viên chúng tôi có nhiều cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm, nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ của bản thân.
2. Đối với nhà trường:
- Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học, triển
khai hình thức dạy học theo dự án cho đông đảo đội ngũ giáo viên trong các nhà
trường.
- Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở phần sinh vật và môi trường.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tổ chức dạy học theo dự án
phù hợp với nội dung của nhiều bài và nhiều lớp học khác. Do đó cần có hướng
nghiên cứu mở rộng thêm ở các nội dung và các cấp khác đặc biệt là cấp THCS.
- Để tổ chức một tiết học theo dự án thành công thì công tác chuẩn bị của GV
cũng rất quan trọng. Bên cạnh đó việc đầu tư các trang thiết bị phòng học đầy đủ, đặc
biệt thiết kế bàn ghế sao cho HS dễ dàng di chuyển trong quá trình học tập.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ bản thân tôi rút ra qua thực tế giảng dạy. Rất
mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của các đồng nghiệp, đặc biệt là hội đồng thẩm
định để đề tài này được hoàn thiện hơn và có tính ứng dụng cao trong giảng dạy ở
bậc THCS.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tôi xin cam đoan: Đề tài này do tôi nghiên cứu và thực hiện tại trường THCS nơi
tôi công tác. Đề tài không sao chép của bất cứ tổ chức hay cá nhân nào.
Tản Lĩnh, ngày 20 tháng 04 năm 2022
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Thu Hương
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Vũ Mai Anh, Hoàng Thanh Hồng, Ngô Văn Hưng, Phan Thị Lạc, Trần Thị Nhung
(2008), Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Sinh học trung học phổ thông,
NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1996), Lí luận dạy học Sinh học, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
3. Lưu Đức Hải (1999), Cơ sở khoa học môi trường, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
4. Trần Bá Hoành (1994), “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, Tạp chí Giáo dục,
(4), tr. 16-17.
5. Ngô Văn Hưng (2005), Dạy học Sinh học 9, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Trần Văn Kiên, Phan Nguyên Hồng (1990), Sinh Thái học đại cương, NXB Giáo
dục, Hà Nội.
7. Vũ Trung Tạng (2006), Bài tập sinh thái học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
8. Lê Đình Trung, Trịnh Nguyên Giao, Ngô Văn Hưng (2009), Tự học, tự kiểm tra
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Sinh học 9, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
Websites:
9. http://ldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/5391/vi-VN/Default.aspx
10. http://edutechwiki.unige.ch/en/Project-based_learning
11. http://educate.intel.com/vn/ProjectDesign/Design/Project_
SẢN PHẨM CỦA HỌC SINH
DỰ ÁN : CHÚNG TA ĐANG SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHƯ THẾ NÀO??
1.
Bài tham luận về ô nhiễm môi trường đất
BÀI THAM LUẬN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
TẠI KHU VỰC XÃ TẢN LĨNH
Ngày nay trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Ở các quốc
gia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên nên việc
xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa như Singapo, Nhật Bản . Người
dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh - sạch - đẹp. Đáng
buồn thay nước ta có một hiện tượng phổ biến là vứt rác ra đường hoặc những nơi
công cộng, không giữ gìn vệ sinh đường phố. Việc làm đã gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường nói chung cũng như
vấn đề ô nhiễm môi trường đất nói riêng.
Hiện nay ô nhiễm môi trường đất đang là vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội ảnh
hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng. "Đất chật người đông" hệ thống cống rãnh và
khâu xử lí rác thải không đảm bảo vệ sinh nên nguy cơ xảy ra dịch bệnh và ô nhiễm
môi trường, nhất là đất là rất lớn. Môi trường đất ở Tản Lĩnh như chúng ta đã biết
chưa được các cơ quan quan tâm lắm nên ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bởi
vậy, bài tham luận hôm nay sẽ giúp chúng ta phần nào nhận thức và khắc phục được
về vấn đề ô nhiễm môi trường đất ở địa phương ta.
Đất là một tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất
đóng vai trò quan trọng: là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để sinh vật
sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở và các công trình
khác. Tuy nhiên con người lại có những tác động xấu đến môi trường đất như xả rác,
sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ... Ngoài ra, con người còn thải những chất thải từ công
nghiệp và sinh hoạt ra môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề hơn.
Tình hình điều tra cụ thể:
Sau đây là 1 số hình ảnh mà chúng em đã thu thập được sau 1 cuộc khám phá tình
hình ô nhiễm môi trường đất ở địa phương mà cụ thể ở đây là khu vực .
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
Qua những hình ảnh trên, chắc rằng ai cũng nhận ra vấn đề cấp thiết cần được
giải quyết ngay bây giờ chính là đề ra những biện pháp thật đúng đắn để nhanh chóng
khắc phục những hậu quả nghiêm trọng mà do một số người dân chưa thật ý thức về
những hành động hủy hoại môi trường mà họ đã gây ra như:
- Xả rác bừa bãi, khạc nhổ lung tung,...
- Con người sử dụng phân bón và hóa chất cho thực vật.
- Chất độc hóa học để lại sau chiến tranh vô cùng nguy hại đến cuộc sống của mọi
người, gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong.
- Các chất thải từ các hoạt động công nghiệp cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến môi
trường.
- Các tác động khác từ thiên nhiên gây ra như hiện tượng xói mòn, rửa trôi và sụt lở
đất thường xảy ra vào mùa mưa lũ, làm suy thoái đất và gây nhiều hậu quả xấu đối
với môi trường và ...
 






Các ý kiến mới nhất