Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Danh_rang.jpg V1__KNTT_su_phan_chia_te_bao.flv Push_and_Pull_Song__A_simple_fun_kids_song_about_pushes_and_pulls.flv 2_phut.flv Screenshot_145.png Quan_sat_lo_tho_cua_la_su_dong_mo_cua_lo_tho_Khi_khong_duoi_kinh_hien_vi.flv 408475839207023969.flv 4772433765765916872.flv Z4151505423792_b6cbaaca3c5307c4e9b17ed601b1c804.jpg 20180703_152231.jpg 20180703_105136.jpg IMG_5655.JPG IMG_6031.JPG 36860783_2095912740676736_8573339710246617088_n.jpg IMG_20170529_095617.jpg TK_nam_hoc.bmp 16832136_787463894736832_5331767775058352854_n.jpg G2.JPG ImagesQ.jpg AN.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
    Ngày gửi: 07h:41' 05-08-2023
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
    1. Lý do khách quan:
    Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
    Nam (Khoá VII) đã vạch ra phương hướng về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục
    và đào tạo”, coi “giáo dục và đào tạo là một động lực thúc đẩy” và là một điều cơ
    bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất
    nước. Mục tiêu cao cả của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
    dưỡng nhân tài”, do vậy phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo
    dục là một công việc có tính thời sự và thường xuyên. Để làm được công việc to lớn
    và khó khăn này, giáo viên phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề về nội dung kiến
    thức khoa học cơ bản, những hình thức tổ chức, những phương tiện giảng dạy và
    những phương pháp thích hợp.
    Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học các
    môn học ở trường phổ thông nói chung và môn Hoá học nói riêng. Công nghệ thông
    tin được ứng dụng vào môn hoá học đã góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây
    hứng thú học tập bộ môn cho HS. Để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc
    sâu kiến thức trong bộ não một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn
    trong bộ não của HS, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi thường hướng dẫn HS
    ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống sang
    phương pháp ghi bài bằng BĐTD. Tôi nhận thấy phương pháp này là thực sự cần
    thiết nhằm giúp HS rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ
    thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em. Vì vậy,
    tôi đã đưa phương pháp dạy học bằng BĐTD vào áp dụng cho các tiết học lí thuyết
    trong chương trình Hoá học lớp 8 và lớp 9.
    2. Lý do chủ quan:
    Hóa học là một môn học thực nghiệm, mang tính khoa học rất cao. Hóa học
    đòi hỏi ở học sinh rất nhiều về năng lực tư duy, phân tích và khả năng tìm tòi sáng

    tạo để nắm vững kiến thức, từ đó rèn luyện thành kỹ năng và phát triển mềm dẻo
    thành kỹ xảo. Vì vậy việc thiết kế và tổ chức dạy học của giáo viên là một nghệ
    thuật. Việc người dạy chọn cho mình một phương pháp truyền thụ kiến thức để học
    sinh dễ tiếp nhận nhất. Mặt khác, một phương pháp mà đòi hỏi học sinh phải có tính
    tự giác, tự tìm tòi kiến thức, sáng tạo và có khả năng vận dụng để giải thích các hiện
    tượng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế, dạy học theo chủ đề là
    phương pháp mà ngành Giáo dục đã đưa vào nhiệm vụ của năm học 2014 – 2015
    đến nay. Với kiến thức trong chương trình sách giáo khoa hiện hành việc dạy học
    theo bài đã phân định và thời gian của mỗi tiết học không còn là bắt buộc theo thứ
    tự thay vào đó dạy học theo chủ đề vẫn đảm bảo nội dung kiến thức của chương
    trình, mặt khác nó còn khơi dạy được tính chủ động, tự giác, tính tự tìm tòi, sáng
    tạo và vận dụng của người học. Việc logic lại nội dung kiến thức đã học hay đưa ra
    một sơ đồ để tóm tắt hệ thống các kiến thức của bài học là nội dung đã được áp
    dụng từ nhiều năm nay bằng sơ đồ tư. Việc kết hợp sơ đồ tư dạy vào dạy hóa học
    theo chủ đề lại càng nâng cao kỹ năng cho người học, bắt buộc người học phải vận
    dụng nhiều kỉ năng như : sưu tầm, tìm tòi, vận dụng, hệ thống lại các kiến thức, từ
    đó xây dựng thành sơ đồ tư duy để vận dụng vào bài học. Để đáp ứng được yêu cầu
    trên tôi chọn đề tài tài “ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học THCS “
    Rất mong sự đóng góp ý kiến chân tình của quý đồng nghiệp để tôi ngày càng
    được hoàn thiện hơn trong nghề nghiệp.
    II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
    + Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn hoá học 8, 9 theo sơ đồ tư duy
    và chuẩn KTKN được điều chỉnh giảm tải trong PPCT năm học 2021 – 2022”.
    + Khách thể nghiên cứu : Môn Hoá lớp 8, 9 ở trường THCS.
    + Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh học bài theo sơ đồ tư duy.
    III. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
    Thực hiện thường xuyên trong quá trình giảng dạy, từ tháng 9/2021 đến cuối
    tháng 4/2022.
    IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
    Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng yêu cầu
    phát triển xã hội, để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp
    dạy học sử dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học chứa đựng một số vấn đề

    cơ bản của hoá học, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho
    học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính tích
    cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ không
    còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc
    với giáo viên trong tiết học.
    Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú và được
    sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho
    giáo viên trong quá trình giảng dạy. Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương
    tiện trực quan và kỹ thuật sẽ góp phần ghi nhớ va hiểu sâu, hiểu mạch lạc kiến thức
    có hiệu quả. Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ thuật đòi
    hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng. Rõ ràng làm tốt
    công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy.
    V. TÍNH MỚI MẺ CỦA ĐỀ TÀI
    Việc kết hợp sơ đồ tư dạy vào dạy hóa học theo chủ đề nhằm nâng cao kỹ năng
    cho người học, bắt buộc người học phải vận dụng nhiều kỉ năng như : sưu tầm, tìm
    tòi, vận dụng, hệ thống lại các kiến thức, từ đó xây dựng thành sơ đồ tư duy để vận
    dụng vào bài học.
    Việc dạy học theo chủ đề không bắt buộc theo thứ tự bài đã phân định mà theo
    chủ quan của người dạy, người triên khai bài học nhưng vẫn phải đảm bảo nội dung
    như trong SKG, vận dụng kiến thức thực tiễn nhiều hơn, học sinh chủ động tự tìm
    tòi nghiên cứu.
    PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
    I. Cơ sở lý luận:
    1. Khái quát về bản đồ tư duy:
    Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy nhằm tìm tòi,
    đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống
    hóa một chủ đề … chữ viết. Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ
    thông thường như bản đồ địa lý mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép

    theo mạch tư duy của mỗi người bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường
    nét, màu sắc, chữ viết.
    BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ
    thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp
    với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm
    năng vô tận của bộ não.
    Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
    lưới liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ
    với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố
    kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,...

    .
    2. Vai trò của bản đồ tư duy:
    - BĐTD giúp HS  học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp
    học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là
    mục tiêu dạy học. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được
    phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
    - BĐTD - giúp HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho
    thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự

    suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, là biện pháp hỗ trợ đổi mới
    phương pháp dạy học một cách hiệu quả. Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát
    huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS,
    các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng,
    cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách
    trình bày kiến thức của từng HS.
    3. Những điều cần tránh khi thiết kế bản đồ tư duy:
    - Ghi lại nguyên cả đọan văn dài dòng: Khi thiết kế BĐTD cẩn chọn lọc những
    ý cơ bản, kiến thức cần thiết, ví dụ minh họa để có nhiều thông tin cho bài học.
    Thiết kế BĐTD của một bài học phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản
    cần chốt lại của bài học đó.
    - Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết hoặc quá sơ sài không có thông tin.
    - Dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu… Chỉ nên vẽ những hình ảnh
    có liên quan đến chủ đề kiến thức. Tránh khuynh hướng vẽ quá cầu kì những hình
    ảnh không cần thiết.
    II. Cơ sở thực tiễn:
    Trong quá trình giảng dạy môn Hóa học THCS cơ bản ở các lớp đại trà của nhà
    trường bản thân tôi nhận thấy phần lớn các em ở các lớp này thì kiến thức và khả
    năng tư duy cũng như tính tự giác học tập của các em kém hơn nhiều so với các lớp
    mũi nhọn của nhà trường, các em vẫn còn mang tính thụ động, tính ỉ lại và phụ
    thuộc vào giáo viên nhiều hơn, khả năng tự tìm tòi, tính tự giác chưa cao.
    Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến
    thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc
    nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật”
    trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan
    với nhau.

    Do đó cần có một phương pháp giúp học sinh khắc phục những hạn chế trên,
    và học tập hiệu quả. Đó là hướng dẫn HS học tập bằng SĐTD, hướng dẫn HS ghi
    chép và ghi nhớ thông tin hiệu quả.

    B. Nội Dung
    I. Cơ sở khoa học
    Bản đồ tư duy do Tony buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của
    não bộ và ứng dụng vào cuộc sống. Bản đồ tư duy ( còn gọi là sơ đồ tư duy hay
    lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ
    thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,...bằng cách kết hợp việc sử dụng
    đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
    Theo các nhà nghiên cứu, thông thường ở trường phổ thông, HS mới chỉ sử
    dụng bán cầu não trái ( thông qua chữ viết, kí tự, chữ số,...) để tiếp thu và ghi nhớ
    kiến thức mà chưa sử dụng bán cầu não phải ( nơi ghi nhớ thông tin kiến thức thông
    qua hình ảnh, màu sắc...) tức là mới chỉ sử dụng 50% khả năng của não bộ. Kiểu ghi
    chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc được trải theo các
    hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng nên dễ bổ sung và phát triển ý tưởng.

    Vì vậy, việc sử dụng BĐTD là một công cụ hữu ích cả trong giảng dạy của giáo
    viên và trong học tập của HS.
    Bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :
    - Lôgic, mạch lạc.
    - Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ.
    - Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”.
    - Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh.
    - Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức.
    - Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức.
    - Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức.
    - Giúp phân tích, so sánh, tổng hợp năm được tính chất hoá học của từng loại
    hợp chất. So sánh được tính chất hoá học khác nhau của các chất trong cùng loại
    họp chất.
    Điểm mạnh nhất của BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng,
    từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo.
    Với những ưu điểm trên, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức
    mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
    chương, mỗi học kì,...cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu
    quả nhất mà lại mất ít thời gian.
    Từ cơ sở thực tiễn và khoa học nêu trên, tôi chọn tên cho giải pháp khoa học
    giáo dục của mình là “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hoá học lớp 8, 9 ''
    II. Phương pháp thực hiện.
    1. Hướng dẫn chung
    1.1. Các bước thực hiện một bản đồ tư duy
    - Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
    Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một
    mảnh giấy (đặt nằm ngang).

    Quy tắc vẽ chủ đề :
    + Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
    + Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích.
    + Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được
    làm nổi bật dễ nhớ.
    + Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
    - Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ. Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ
    vào chủ đề trung tâm.Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :
    + Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để
    làm nổi bật.
    + Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
    + Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có
    thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
    - Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
    Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
    + Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
    + Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết
    kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho
    những từ thông dụng. Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho
    riêng bạn.
    - Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng. Bạn
    có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như
    giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn.
    1.2. Quá trình hướng dẫn HS xây dựng bản đồ tư duy.
    - Bước 1: Trước hết GV phải cho HS làm quen với BĐTD. Bởi vì thực tế cho thấy
    rằng rất nhiều HS cũng chưa biết BĐTD là cái gì, cấu trúc ra sao và vẽ như thế nào,
    vì thế GV trước hết cần phải cho HS làm quen và giới thiệu về BĐTD cho HS. Giáo

    viên nên giới thiệu cho HS về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng
    BĐTD trong học tập môn Hoá học. Hiện nay đã có các phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ
    tu duy rất đơn giản và dễ sử dụng như Edraw Mind Map, Freeplane, PowerPoint,
    ….
    Giáo viên có thể đưa ra một số BĐTD sau đó yêu cầu HS diễn giải, thuyết
    trình về nội dung của BĐTD theo cách hiểu riêng của mình. Với việc thực hiện
    bước này sẽ giúp HS bước đầu làm quen và hiểu về BĐTD.
    Ví dụ : Trong bài Mở đầu môn hoá học GV sẽ đưa ra hệ thống hoá các nội dung
    bài học yêu cầu HS diễn giải sơ đồ

    - Bước 2: Sau khi đã làm quen với BĐTD giáo viên có thể giao cho HS hoặc cùng
    HS xây dưng lên một BĐTD ngay tại lớp với các bài ôn tập, hệ thống hóa kiến thức
    Ví dụ : Trong bài luyện tập tiết 18 hoá 9 GV cùng HS phân loại các hợp chất
    vô cơ đã học trong chương I lớp 9

    - Bước 3 : Sau khi HS vẽ xong bản đồ tư duy, giáo viên có thể để HS tự trình bày ý
    tưởng về bản đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được.
    1.3. Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy
    - Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
    - Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
    - Dành quá nhiều thời gian để ghi chép.
    2. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài của học sinh và dạy bài
    mới của giáo viên.
    2.1. Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
    Giáo viên định hướng cho HS chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một BĐTD về
    bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới. Điều này sẽ bắt buộc HS phải đọc
    bài và nghiên cứu bài trước, giúp HS nắm được một cách khái quát những điều sẽ
    có trong bài học mới
    Ví dụ : Trước khi học bài “ tinh bột và xenlulozơ“ GV yêu cầu HS về vẽ một
    BĐTD về các đề mục có trong bài.

    2.2. Sử dụng bản đồ tư duy khi vào tiết học mới.
    Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng bằng một
    hình vẽ bất kì trên bảng của lớp, cho HS ngồi theo nhóm thảo luận BĐTD của mỗi
    HS đã chuẩn bị trước ở nhà đối với BĐTD của các bạn trong nhóm.
    Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số
    1 (các đề mục có trong bài) và gọi HS lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề, chia thành các
    nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
    Sau khi HS vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, GV đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ
    nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2... HS sẽ hoàn thành nội dung BĐTD của bài học
    mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu
    vào BĐTD của từng cá nhân.
    Ví dụ 1 : Khi học bài “ Tinh bột và xenlulozơ “ ( tiết 63 theo phân phối chương
    trình ), sau khi HS vẽ xong nhánh cấp 1, GV sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi để triển
    khai kiến thức và hoàn thiện BĐTD của bài học :
    + Trạng thái tự nhiên của tinh bột và xenlulozơ có gì khác nhau?
    + Tính chất vật lý của tinh bột và xenlulozơ như thế nào?

    + Tính chất hoá học của tinh bột và xenlulozơ giống và khác nhau như thế nào ?
    Sơ đồ minh hoạ

    Ví dụ 2 : Khi học bài “ Clo “ GV có thể kết hợp với BĐTD đã vẽ trong bài “
    Clo“ và thông qua hệ thống câu hỏi để xây dựng BĐTD cho bài học mới, khi đó
    việc tiếp thu kiến thức mới của HS trở nên logic và khái quát hơn
    Sơ đồ minh hoạ bài “ Clo ”

    Sau mỗi bài học, GV hướng dẫn, gợi ý để HS tự hệ thống kiến thức trọng
    tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Việc làm này sẽ giúp các
    em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
    2.3. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy bài luyện tập.
    Qua thực tế giảng dạy bộ môn tôi thấy rằng loại bài luyện tập là rất quan trọng
    nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng vận
    dụng giải bài tập hóa học. Cấu trúc bài luyện tập ở SGK có 2 phần :
    - Phần 1 : Kiến thức cần nhớ
    - Phần 2 : Bài tập
    Khi sử dụng BĐTD để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên trên
    một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được đặt trong mối
    liên hệ của chúng nên HS dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu.
    Để dạy phần 1 GV có hai phương pháp để triển khai :
    + Cho HS lập một BĐTD ở nhà về nội dung kiến thức cần nhớ, khi dạy phần
    này GV tổ chức cho HS nhận xét một vài bản đồ để chọn ra bản đồ hoàn chỉnh nhất
    sau đó GV có thể bổ sung ý kiến của mình vào để có một bản đồ chuẩn dùng cho
    HS nắm các kiến thức của bài học .
    + Giáo viên đưa ra các từ khoá kiến thức để HS triển khai nội dung.
    Sau đây là bản đồ tư duy chúng tôi đã cho học sinh xây dựng trong tiết luyện tập :

    Bài 6 : Luyện tập các loại hợp chất vô cơ
    4/ Sử dụng BĐTD trong bài thực hành:
    Trong giờ thực hành, HS cần phải làm một số thí nghiệm theo nhóm, do đó
    các em cần phải nắm vững các bước tiến hành để có thể thực hiện thành công các
    thí nghiệm. Các bước tiến hành phải đơn giản, ngắn gọn cho HS dễ hiểu và có thể
    thực hiện theo được.
    Trước giờ thực hành, GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung thực hành, sau đó
    vào lớp các nhóm HS vẽ ra BĐTD thể hiện các bước tiến hành cho từng thí
    nghiệm và báo cáo trước lớp. Cả lớp chỉnh sửa, bổ sung cho hòan chỉnh sau đó các
    nhóm mới tiến hành thí nghiệm.
    Ví dụ : BĐTD thí nghiệm 3 – Nhận biết 3 dd HCl, H 2SO4, Na2SO4 trong bài
    thực hành “ Tính chất hóa học của oxit và axit”

    5/ Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà:
    Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu
    nên bài tập về nhà mà GV giao cho HS ( hoặc nhóm HS) trước hết phải gắn bó với
    nội dung bài học và trong điều kiện cho phép ( trình độ HS, thời gian, kinh tế…).
    Yêu cầu đối với bài về nhà cũng không cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu
    tư lớn hơn ( cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể
    hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của HS.
    Ví dụ : Sau khi học bài Oxit, GV yêu cầu HS về nhà vẽ bản đồ tư duy thể hiện
    các nội dung vừa học.

    6/ Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức một chương hoặc nhiều bài:

    Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn.
    Tương tự, GV và HS có thể thể hiện một phần nội dung bài học, một bài học hoặc
    nhiều bài học, một chương kiến thức. Vấn đề là các nội dung này có điểm chung
    với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa. Tùy theo mục đích sử dụng
    mà có thể thiết kế BĐTD trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thực
    hành, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chương, một phần kiến thức. Với bài tập
    này, GV có thể cùng HS làm tại lớp hoặc bài tập giao về nhà cho HS, nhóm HS.

    III. Hiệu quả áp dụng:
    Qua hơn 4 tháng thực hiện đề tài “ Sử dụng BĐTD trong dạy học Hóa học
    THCS” ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi nhận thấy:
    Việc lập BĐTD có thể do từng cá nhân hoặc một nhóm thực hiện. BĐTD vừa
    mang đậm dấu ấn cá nhân vừa thể hiện được ý tưởng sáng tạo của tập thể do đó vận
    dụng BĐTD vào dạy học đã phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS góp phần tích
    cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học.
    Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết
    quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và phương pháp giảng
    dạy của GV:

    - Học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và
    phát triển tư duy. HS hào hứng trong học tập, dần hình thành cho các em tư duy
    mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách tổng thể,
    khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng, HS hiểu bài, nhớ lâu, vận dụng
    tốt.
    - GV tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, làm cho giờ học
    trở nên nhẹ nhàng đối với GV và HS, và đặc biệt là giúp HS nắm được kiến thức
    qua một “ sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức. Sử dụng BĐTD vào dạy
    học, GV và HS cùng làm việc tích cực, sáng tạo, huy động một lúc nhiều kiến thức.
    * Kết quả khảo sát học sinh:
    Kết quả này thu nhận được khi tiến hành khảo sát học sinh vào thời điểm tháng
    9 ( chưa thực hiện đề tài) và thực hiện liên tục đến cuối tháng 2 của năm học 2021 –
    2022 với tổng số HS tham gia khảo sát là 183 em.
    Thời gian

    TSHS

    Tháng 9

    8 - 10

    5–7

    3-4

    0–2

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    183

    34

    18.6

    102

    55.7

    30

    16.3

    17

    9.2

    Tháng 10

    183

    53

    28.9

    95

    51.9

    22

    12

    13

    7.1

    Tháng 11

    183

    62

    33.8

    85

    46.4

    28

    15.3

    8

    4.3

    Tháng 12

    183

    66

    36

    89

    48.6

    22

    12

    6

    3.2

    Tháng 1 , 2

    183

    84

    46.4

    82

    40.9

    13

    7.1

    4

    2.1

    Với kết quả trên cho thấy tỷ lệ HS đạt điểm từ 5 – 10 ngày càng tăng lên và
    tỷ lệ HS từ 0 – 4 điểm giảm xuống rõ rệt. Qua đó cho thấy khả năng ghi nhớ bài của
    HS có chuyển biến tích cực so với thời điểm chưa thực hiện đề tài. Dạy học bằng
    bản đồ tư duy giúp cho học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và
    chính xác nội dung bài học của mình, khắc phục được tình trạng học sau quên
    trước. Đặc biệt, đối với phương pháp này không chỉ phát triển được trí tuệ của học

    sinh qua khả năng vẽ và viết ngắn gọn, cô đọng nội dung bài học trên bản đồ tư
    duy, mà các em học sinh còn hệ thống được kiến thức khi tổng hợp và chọn lọc ý để
    trình bày. Ngoài ra, còn giúp cho học sinh không nhàm chán mà luôn sôi nổi và hào
    hứng trong tiết học, từ đó tạo được điều kiện cho học sinh tập trung thảo luận và
    cùng tìm ra vấn đề cốt lõi trong nội dung của bài học. Với phương pháp này buộc
    học sinh phải chủ động trong việc học của mình, từ đó mà hiệu quả trong việc học
    không ngừng được nâng cao.
    C. KẾT LUẬN
    I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
    Qua gần 2 năm giảng dạy bộ môn Hóa ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi đã áp dụng
    nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy
    tính tích cực của HS nhằm mục đích đưa bộ môn Hóa học vào cuộc sống của các
    em, làm cho các em không còn tâm lý “ sợ” bộ môn Hóa học. Trong phương pháp
    dạy học trước đây tôi đã từng áp dụng việc dạy học bằng bản đồ tư duy như vẽ sơ
    đồ hay biểu bảng nhưng ở mức độ đơn giản và áp dụng không thường xuyên. Còn
    hiện nay khi thực hiện đề tài này thì tôi áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ
    tư duy một cách thường xuyên hơn với mức độ cao hơn và kết quả là phát huy tính
    chủ động sáng tạo của học sinh trong việc tìm tòi, đào sâu hay mở rộng một ý
    tưởng,… HS ngày càng yêu thích bộ môn Hóa học hơn và rất hào hứng trong các
    tiết học. Từ đó tạo cho tôi một tâm lý thoải mái, nhiệt tình hơn trong giảng dạy,
    chịu khó đầu tư soạn nhiều giáo án có chất lượng góp phần nâng cao chất lượng dạy
    học. Áp dụng phương pháp này làm cho tiết dạy của tôi trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh
    động hơn, tiết kiệm được thời gian nhưng hiệu quả giảng dạy lại cao hơn. Đây là
    phương pháp hỗ trợ tích cực cho tiết dạy, ôn tập kiến thức cho học sinh một cách
    khoa học. Qua đó học sinh ghi nhớ sâu sắc kiến thức, tránh được kiểu học vẹt, học
    thuộc lòng một cách máy móc.
    II. Khả năng áp dụng:

    Đề tài: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hóa học THCS” được áp dụng
    đối với bộ môn Hóa học lớp 8, 9 và phù hợp với các loại bài cơ bản như:
    Hóa 8 – gồm các loại bài:
    + Nghiên cứu khái niệm, định luật hóa học cơ bản.
    + Tính chất hóa học của các chất cụ thể có nhiều ứng dụng như Oxi, Hiđro, Nước.
    + Bài có nội dung điều chế, ứng dụng.
    + Bài thực hành hóa học.
    + Bài luyện tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm.
    Hóa 9 – gồm các loại bài:
    + Nghiên cứu tính chất hóa học chung của các loại chất như: oxit, axit, bazơ,….
    + Nghiên cứu tính chất hóa học các chất cụ thể như canxi oxit, lưu huỳnh đioxit,
    axit sunfuric….
    + Bài nghiên cứu tính chất hóa học của các chất hữu cơ.
    + Bài có nội dung sản xuất hóa học.
    + Bài thực hành hóa học.
    + Bài luyện tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm.
    Đối với những bài nghiên cứu kiến thức mới thì việc sử dụng BĐTD sẽ giúp
    học sinh tiếp thu bài một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng.
    Đối với bài nghiên cứu tính chất hóa học thì việc sử dụng BĐTD ngoài tác
    dụng giúp học sinh tiếp thu bài nhanh, còn giúp học sinh ghi nhớ hiệu quả hơn và
    có thể dễ dàng so sánh với những chất khác.
    Đối với bài thực hành thì giúp học sinh nắm được trình tự tiến hành các thí
    nghiệm một cách đơn giản, ngắn gọn làm cho thao tác thí nghiệm chính xác, nhẹ
    nhàng kết quả là thúc đẩy sự thành công của các thí nghiệm.
    Đối với bài ôn tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm thì việc sử dụng BĐTD giúp
    học sinh hệ thống hóa các kiến thức đã học một cách nhanh chóng, đồng thời giúp
    khắc sâu kiến thức trọng tâm.

    Đối với bài có nội dung sản xuất hóa học thì việc sử dụng BĐTD giúp cho HS
    nắm được quy trình sản xuất hóa học và thấy rằng nền sản xuất hóa học không chỉ
    có vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có vai trò to lớn đối với nền
    kinh tế.
    Việc áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học có thể được tiến hành ở bất kỳ thời
    điểm nào của tiết học: trước, trong và sau khi học bài mới. Tuy thời điểm thực hiện
    có khác nhau nhưng việc sử dụng BĐTD đều nhằm mục đích là củng cố kiến thức,
    khắc họa kiến thức một cách sâu sắc,cô đọng nhưng dễ hiểu, dễ tiếp thu và có thể
    thực hiện với mọi đối tượng học sinh.
    III. Đề xuất, kiến nghị:
    - Đối với GVBM: cần tăng cường hoạt động của HS trong các giờ học, tạo
    điều kiện tối đa cho các em phát huy tiềm năng trí tuệ và óc sáng tạo của mình.
    - Đối với CMHS: cần tạo một không gian học tập thoải mái cho con, dành
    nhiều thời gian cho con học tập, luôn có sự theo dõi tình hình học tập của con,
    kịp thời khen thưởng, khích lệ hoặc uốn nắn những sai sót của con.
    - Đối với HS: cần nổ lực, chuyên cần trong học tập, thường xuyên tự ôn tập
    những kiến thức đã học một cách tự giác và hiệu quả.
    - Đối với các cấp lãnh đạo:
    + Trang bị phân mềm vẽ BĐTD cho các trường.
    + Tập huấn cách sử dụng phân mềm vẽ BĐTD và phương pháp dạy học có sử
    dụng BĐTD cho giáo viên.
    Xác nhận của BGH

    Ba Vì, ngày 20/02/2022
    Người viết
    Nguyễn Thuỳ Linh

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    
    1/ Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ( 2009), Văn bản số
    242-TB/TW ngày 15/04/2009 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục
    thực hiện Nghị quyêt Trung ương 2 ( khóa VIII), phương hướng phát triển giáo
    dục và đào tạo đến năm 2020.
    2/ Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Dạy tốt – học tốt các môn học bằng
    BĐTD, NXB Giáo dục Việt Nam 2011.
    3/ Trần Kiểu, Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Viện Khoa học
    Giáo dục Việt Nam.
    4/ Jan E.Pollock, Các PPDH hiệu quả, ( tài liệu dịch), NXB giáo dục Việt
    Nam, 2011.
     
    Gửi ý kiến